D. Tước đoạt.

trung tá công an Điền Văn Toàn đang xô đẩy lôi kéo định hành hung và đánh đập để cướp đất của một gia đình bộ đội có công lao với đảng CSVN và chế độ. Ảnh này chụp trong cuỡng chiếm cướp đất thô bạo 22/4/2005 |
Chính sách cởi trói, công nhận quyền làn ăn cá thể với quyền sử dụng đất dài hạn và chuyển nhượng đất, đã thúc đẩy canh tác, nên chỉ sau một năm Việt Nam đã có thể xuất cảng gạo. Khởi đầu với 1.4 triệu tấn năm 1989, rồi lên tới 2 triệu tấn năm 1995.
Nhưng việc cởi trói đã gây nên một trận chiến mới ở nông thôn. Đó là trận chiến cướp đất và giữ đất. Vẫn là đấu tranh giai cấp, nhưng bây giờ là đấu tranh giữa nông dân và đảng viên Cộng Sản. Trận chiến ngày càng khốc liệt, đã và đang diễn ra dưới nhiều hình thức. Có thể kể:
1. Đảng viên giành đất tốt.
Do luật lệ mơ hồ và tham nhũng, việc phân chia lại ruộng đất đã mở cửa cho cán bộ địa phương sử dụng quyền độc đoán phân chiếm những vùng đất màu mỡ cho gia đình và họ hàng. Chuyện bất công này không những đè nặng lên số phận nông dân mà đã đụng độ ngay cả những gia đình đảng viên, thương binh, liệt sĩ, nên đã đưa đến nhiều sự phản kháng dưới một số hình thức như:
- Nhiều nơi, nông dân nhận được đất xấu hoặc quá ít, đã tự động chiếm đất hưu canh và chính quyền đã đem lực lượng đến trấn áp.
- Nhiều nơi, nông dân đã tập họp đông đảo phản đối chính quyền, đôi khi tới bạo động ở những điểm nóng. Chẳng hạn riêng tỉnh Thanh Hóa từ 1988 tới 1992 đã xảy ra 120 vụ, còn trên toàn quốc thì cùng thời gian đó đã có ít nhất 2600 vụ.
(Gabriel Kolko, Viet Nam: Anatomy of Peace, New York: Routledge, 1997, trg. 92, 93)
2. Đảng viên thành địa chủ.
Sau cải cách ruộng đất ở miền Bắc, rồi ở miền Nam sau 1975, chế độ Cộng Sản đã hủy diệt giai cấp địa chủ, phú nông, trung nông, tiểu nông để chỉ còn một giai cấp nông dân vô sản. Nhưng với chính sách cởi trói nông nghiệp (nghị quyết 10), chế độ lại tái tạo một giai cấp địa chủ mới mà lâu nay dân đã gọi là đám cường hào ác bá mới mà nhà thơ Cộng Sản Nguyễn Duy trong bài thơ “Nhìn Từ Xa…Tổ Quốc” đã đúc kết thành mấy câu:
Lãnh chúa sứ quân san sát vùng cát cứ
Lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa
Luật pháp như đùa – như có – như không.
Nghiên cứu về sự hình thành với cách làm ăn của giai cấp địa chủ mới này, giáo sư Gabriel Kolko đã ghi lại một số điều:
Thứ nhất, cán bộ ở nông thôn, cả triệu người, đã lợi dụng việc cải cách đất đai để thu lợi cá nhân, quyết định việc phân chia ruộng đất, ấn định những thứ thuế phi pháp trong vùng họ cai trị và chiếm nhiều đất để trở thành địa chủ.
Thứ nhì, sự bất bình đẳng gia tăng nhanh ở nông thôn. Nhiều nông dân có ít đất đã phải đi làm thuê cho những địa chủ mới, và do không có luật pháp bảo vệ, nông dân làm thuê đã bị bóc lột tàn tệ không khác thời Pháp thuộc. Những gia đình giàu có lợi tức gấp hơn 40 lần gia đình nghèo, cựu binh và thương binh nghèo nhất và cán bộ địa phương đã trở thành một giai cấp mới được gọi là chế độ cường hào mới.
Thứ ba, tầng lớp địa chủ mới đã cho nông dân thuê nông cụ và cho vay với lãi cao gấp 3 lần lãi thường. Vì thế trong một số vùng, đời sống của trên một nửa nông dân nghèo đã tùy thuộc vào họ với nợ nần chồng chất.
(Gabriel Kolko, sđd, trg. 94, 100)

Kinh Giáo Bảy và kinh Mương Chùa thuộc ấp Mũi Tràm B xã Khánh Bình Tây Bắc huyện Trần Văn Thời (Cà Mau) |
Để có thể nhìn cụ thể hơn vào giai cấp đại chủ mới, xin lấy hai thí dụ điển hình, đã được ông Võ Đắc Danh ghi lại trong bài ký “Nông Dân và Đất”. Bài ký viết về “xã Khánh Bình Tây thuộc Cà Mau, một xã có 2600 hộ dân, với hơn 40% sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có gần 500 hộ dân không có đất, nghĩa là có hàng ngàn con người trên cái vùng đất nhỏ nhoi này không biết phải làm gì để sống. Làm mướn ư? Đâu phải lúc nào cũng có người ta mướn để mà làm. Mùa gặt họ vào nông trường mót lúa, giũ rơm thì bị cán bộ nông trường đốt thúng, đốt rơm. Mùa mưa họ vào nông trường săn chuột, bắt ốc, hái rau thì bị đuổi xô, bị tịch thu phương tiện, bị đánh đập, thậm chí bị bắn trọng thương, bởi dưới con mắt của cán bộ nông trường, họ là những phần tử bất hảo cần phải cách ly. Nhiều người kéo nhau ra biển xúc cua giống để bán thì bị các anh bảo vệ nguồn thủy sản vây bắt vì cái tội ăn trộm tài nguyên thiên nhiên”.
Từ cái nghèo đó, Khánh Bình Tây đã sản sinh hai thứ địa chủ:
Một loại là kinh doanh đất, theo ông Võ Đắc Danh thì do cái nghèo bủa vây, đại bộ phận nông dân có đất ở đây phải cầm cố cho người khác, rồi thuê lại làm với giá mỗi công một năm 10 giạ lúa. Và người đầu tư cho việc kinh doanh đất đai này lại là ba ông bí thư chi bộ, trưởng ban nhân dân và trưởng công an ấp, mỗi ông nắm trong tay hàng trăm công, rồi cho những khổ chủ ấy thuê lại, mỗi năm thu hàng ngàn giạ lúa. Khi lãi mẹ đẻ lãi con, chủ đất buộc lòng phải sang bán thì các ông cũng chính là người mua. Như ông Bảy Châu, nguyên là bí thư chi bộ ấp, khởi nghiệp chỉ có bảy công ruộng, nhưng kết quả của một quá trình kinh doanh cầm cố, số ruộng đã lên tới cả trăm công.
Còn loại thứ nhì là dùng quyền chiếm đất. Ông Danh cho biết Khánh Bình Tây có một nông trường tên là Nông Trường 402, diện tích 700 ha, được hoạt động theo hình thức phát canh thu tô. Ông Nguyễn Thanh Vọng, giám đốc nông trường, ngoài chuyện bóc lột hàng trăm nông dân làm thuê (gọi là nông trường viên), đã thâu tóm nhiều ruộng đất riêng. Không ai biết chính xác ông có bao nhiêu ruộng, nhưng biết chắc ông có hai mươi công đất gieo mạ, và mỗi công gieo mạ cấy được mấy chục công đất. Ông độc quyền cho thuê máy cày, máy suốt, và vợ ông, bà Tuyết Bạc, là người cho vay nặng lãi nổi tiếng, với các loại cho vay như vay lúa, vay tiền và có thể trả bằng tiền, bằng lúa và bằng sức lao động (20.000 đồng một công gặt). Từ cách làm ăn này, ông Vọng đã thu hàng chục ngàn giạ lúa mỗi năm.
(Thế Kỷ 21, số 230, tháng 6/ 2008, California)
3. Đảng viên cướp đất bán cho tư bản ngoại quốc.
Từ thập niên 1990 đến nay, theo đà phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đất đai là nơi dễ làm giàu nhất nên đất của nông dân (nhà cửa, ruộng vườn) đã bị thu hồi dưới nhiều cái tên như giải phóng mặt bằng, phục vụ qui hoạch các khu công nghiệp, các dự án đầu tư quốc tế… để đảng viên làm ăn với tư bản. Việc thu hồi này có bồi thường, nhưng là thứ bồi thường ăn cướp theo chế độ chuyên chính vô sản, thấy bị tước đoạt oan ức nên nông dân đã đi khiếu kiện.
Chuyện bồi thường kiểu tước đoạt này đã được báo chí, trí thức và cả những quan chức Cộng Sản công khai nói lên nhiều. Xin ghi lại ít điều:
Về thu hồi đất:
- Ông Lê Huy Ngọ, nguyên Bộ Trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn, trong cuộc “Hội Thảo Người Dân Nông Thôn Trong Quá Trình Công Nghiệp Hóa” đã nhận định: Cách thu hồi đất hiện nay hầu như là tước đoạt. Một chữ ký của chính quyền tỉnh Hà Tây, hơn 200 ha đất thuộc loại “bờ sôi ruộng mật” được giao cho Công Ty CP Tuần Châu làm khu du lịch giải trí, người dân hầu như mất trắng. Chuyện tương tự như vậy xảy ra ở nhiều nơi. Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long than: “Làm ngày nào biết sống ngày đó, chỉ biết còn mơ đến trúng số độc đắc”.
(Tiasang.com/17/7.08, Xây dựng nông thôn phát triển bền vững)
- Luật sư Phạm Duy Nghĩa, trong bài Nông Thôn, Nông Dân Từ Góc Nhìn Sở Hữu, đã viết:
“Trước những ánh mắt thèm khát tài nguyên của các ông chủ tư bản và sự im lặng của người có quyền, đôi khi người ta lảng tránh bàn về đề tài này (Dân cày có ruộng). Song càng lảng tránh, đơn thư khiếu nại nhà đất càng chồng chất. Hơn 80% trong số gần 2 vạn đơn thư khiếu nại của cử tri gửi tới các cơ quan và đại biểu dân cử có nội dung liên quan đến quyền tài sản nhà đất, đền bù, giải tỏa khi chuyển đổi đất ruộng thành đất kinh doanh là mầm mống cho vô số vụ “khiếu kiện tập thể” lan dần từ thôn quê lên thành thị. Chẳng cần tốn kém điều tra, chỉ tắt máy điều hòa, mở cửa sổ và nhìn ra cái oi bức của xứ nhiệt đới, quan chức nước ta sẽ cảm nhận được cái nóng từ quyền sở hữu ruộng đất đôi khi áp sát cổng chính quyền”.
(Tiasang.com/2/7/08)
- Ông Trần Tiến Dũng, trong bài Nông Dân Trong Cơn Hồng Thủy Thu Hồi Đất, đã viết:
“Lúc này ở Việt Nam cứ bước chân về các vùng nông thôn quanh các đô thị, đâu đâu cũng thấy cắm bảng qui hoạch giải tỏa. Nhà nước Cộng Sản trong cơn cuồng chạy theo các chỉ tiêu phát triển công nghiệp đã thả nổi cho các tỉnh tha hồ lập dự án ký kết đầu tư. Cứ nhìn vào bản đồ các khu công nghiệp, các dự án phát triển đô thị cao cấp… thì sẽ thấy cả nước đang bị xé rách tan hoang ra sao. Không ai có thể thống kê hết có bao nhiêu hectares bờ biển đã bán sạch cho các công ty du lịch nước ngoài, người ta chỉ nghe ngư dân than thở, đến cả những làng chài heo hút, họ cũng không còn chỗ để đậu thuyền. Một nhà báo có thẻ hành nghề kể rằng, một lần anh được mời miễn phí đi ăn, đi chơi, đi tham quan các công trình du lịch ven biển lộng lẫy, nhưng anh không thể viết, mà có viết cũng không được đăng về chuyện các ông chủ này đã liên kết với các quan tham địa phương sang đoạt đất đai của lương dân với giá rẻ mạt ra sao”.
(Nguoiviet online/04/24/08)
Trong cuộc hội thảo về chủ đề “Công Tác Qui Hoạch Sử Dụng Đất Nông Nghiệp và Chính Sách Pháp Luật Về Sử Dụng Đất Trong Tình Hình Hiện Nay” do văn phòng Quốc Hội và Bộ Tài Nguyên Môi Trường tổ chức tại Sài Gòn (6/9/08), lần đầu tiên đại biểu Quốc Hội nhìn nhận những sự thực đau lòng:
- Ông Trần Thế Vượng, ủy viên Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội cho biết: Kết quả khảo sát gần đây cho thấy, khoảng 80% khiếu nại, tố cáo của người dân liên quan đến đất đai, thậm chí có nơi tỷ lệ này là 90%.
- Bà Nguyễn Thị Bạch Mai, đại biểu Quốc Hội tỉnh Tây Ninh, nhận xét: Giá đất theo quy định hiện hành không đồng bộ, chỉ cách nhau một con mương, nhưng giá đất ở vị trí Sài Gòn giá cao hơn nhiều so với giá đất ở vị trí thuộc Tây Ninh. Vì mỗi nơi một kiểu nên người dân không đồng tình. Thu hồi đất là đụng đến sinh kế, nhưng một số địa phương đền bù theo kiểu ban ơn.
- Ông Nguyễn Hữu Nhơn, đại biểu Quốc Hội tỉnh Đồng Tháp nhận định: Chính sách bồi thường khi thu hồi đất chỉ mới chú trọng đến thiệt hại trước mắt về vật chất. Còn đời sống, việc làm của người dân về lâu dài ra sao chưa được quan tâm đúng mức. Có trường hợp thu hồi đất chỉ nhằm để giao cho doanh nghiệp kinh doanh, nhưng một số nơi lại nói dối là để thực hiện các mục tiêu quốc phòng an ninh để đền bù với giá thấp nên giá bồi thường bị sai lệch, người dân gần như mất trắng.
- Ông Trần Thế Ngọc, Thứ Trưởng Bộ Tài Nguyên Môi Trường xác nhận: Mỗi năm quỹ đất nông nghiệp ở Việt Nam mất thêm 50.000 héc ta. Tương đương 400.000 đến 500.000 tấn lương thực, ảnh hưởng đến hàng trăm ngàn người dân. Một trong những nguyên nhân khiến quỹ đất nông nghiệp càng ngày ít là do thiếu quy hoạch vùng. Tỉnh nào cũng muốn làm khu công nghiệp này, khu đô thị nọ để thu hút đầu tư.
- Về chuyện này, ông Nguyễn Hữu Nhơn phê phán: Do chạy theo các chỉ số tăng trưởng nên muốn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, nhưng không có quy hoạch, cuối cùng xảy ra tình trạng chủ đầu tư chỉ đâu thì chính quyền địa phương thu hồi đất ở đó. Bất kể hậu quả là quỹ đất nông nghiệp vơi đi nhanh chóng. Mất sinh kế, hàng triệu nông dân gặp đủ thứ khó khăn. Đó là chưa kể tình trạng phát triển các khu công nghiệp trong khu vực sản xuất nông nghiệp đã khiến môi trường bị ô nhiễm trầm trọng.
(Nguoi-viet online/09/07/08)
Về bồi thường và khiếu kiện.
Xin ghi lại ít chuyện bồi thường thu hồi đất:
Nữ đạo diễn Song Chi
|
- Nữ đạo diễn Song Chi trong bài “Những Sự Im Lặng Đáng Sợ” viết: “Những người nông dân nghèo từ những vùng nông thôn xa xôi lặn lội lên thành phố Sài Gòn, đem theo những tờ đơn khiếu kiện đất đai bị chiếm đoạt hoặc ép bán với giá đền bù giải tỏa rẻ như cho, mỗi mét vuông giá chỉ tương đương với 4 tô phở, sau đó lại được những kẻ khác bán lại với giá vài triệu đồng và nhiều lần hơn nữa. Những lá đơn trong tay họ nhàu nhĩ, đẫm mồ hôi và cả nước mắt. Họ cứ việc ngồi đấy hết ngày này qua ngày khác, ăn bờ ngủ bụi, mòn mỏi hy vọng có ai đó giải quyết cho. Rồi không ai giải quyết cả. Lá đơn lại được trả lại với lý do khiếu kiện vượt cấp, đem về tỉnh giải quyết. Tỉnh lại trả về huyện, huyện lại trả về xã là nơi chính quyền đã trực tiếp thi hành lệnh giải tỏa, cưỡng chiếm đất đai của họ”.
(Doi-thoai.com/9/7/08)
- Luật sư Trần Lâm trong bài “Luật Đất Đai và Tam Nông” viết: “Chị Dậu sau cải cách ruộng đất được làm chủ ruộng đất, vào hợp tác xã chị mất ruộng, hợp tác xã tan vỡ chị được tạm cấp ruộng, thành ra nửa có nửa không. Rồi đảng tuyên bố ruộng đất là của toàn dân, có người lại nói “Ruộng đất là của cán bộ”, cả hai câu khác chữ nhưng cùng một nghĩa. Nhớ lại “đất của vua chúa, đất của làng” là thế đó! Cái từ “Thu hồi” cũng là như vậy!... Đất “thu hồi” đền bù 23 triệu 1 sào (360m2), thế rồi đo, vẽ, lên dự án, rồi bán, rồi mua: 15, 20 triệu/m2, thế là công an và dân xô xát. Tự điển thêm một từ mới “dân oan”, công an thêm một nhiệm vụ mới: “Bảo vệ nhà đầu tư”.
(Doi-thoai.com/9/15/08)
Về dân oan và khiếu kiện.
Dân oan khiếu kiện
|
Quyền độc trị với chế độ vô luật, tham nhũng và sự tàn ác đã tạo nên thảm trạng dân oan. Thảm trạng này sẽ gia tăng theo thời gian, vì đất là tài sản của đảng (nhân danh hai chữ nhân dân tổng thể trừu tượng, chứ không có nhân dân cá thể mà chỉ đảng viên là hiện hữu cá thể) để đảng viên tự do làm ăn với tư bản, mà chương trình đầu tư nào (nhà máy, khu du lịch, sân golf, khu đô thị…) đều có phần chia chác. Tham quá tối mắt, nên mới có hiện tượng chủ tư bản chỉ đâu, quan Cộng Sản thu đất ở đó, mới có loại trách nhiệm “Nhiệm vụ của chúng tôi là phải phủ kín khu công nghiệp” mà Luật sư Trần Lâm, trong bài đã dẫn, đã nhắc lại lời tuyên bố của một quan đầu tỉnh với câu hỏi: Vậy có tính đến hiệu quả tốt hay xấu sau này? Luật sư Lâm hỏi như thế, còn chúng tôi thì coi đó như một thứ nhiệm vụ vùi dập nông dân để tạo ra nguồn dân oan.
Từ thập niên 1990 đến nay, dân oan và khiếu kiện đã trở thành một phần lịch sử của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ vô sản tiến lên tư sản. Vì là một phần lịch sử phản lại chế độ nên khó có thể ước lượng số dân oan mà chỉ thấy là hàng ngày, hàng tháng… lớp lớp dân oan lũ lượt kéo đến trụ sở tiếp dân tỉnh, thành phố, quốc hội, dinh chủ tịch, dinh thủ tướng, dinh tổng thanh tra…trương biểu ngữ tố cáo đích danh những ông quan tại địa phương: Bí thư, chủ tịch tỉnh, huyện, xã… cướp nhà, cướp đất và xin các quan trên đèn trời soi xét, cứu giúp. Nhưng bao lâu nay, dân oan đã ít khi tới gần được cổng dinh quan, vì bị lực lượng công an nhân dân ngăn cản xua đuổi. Trước mắt những ông quan vô sản thì đây là đám người gây rối mất trật tự, nhưng không thể bỏ tù và bắn bỏ, vì quá nhiều mà trong đó đa số là gia đình đã đi theo đảng Cộng Sản, đi theo Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng, nên đã dùng sách “Thời Gian và Trời Đất” để trừng trị dân oan, vì chắc rằng sự kiệt sức, cạn tiền và bệnh tật của dân oan sẽ giúp họ đưa những lớp sóng khiếu kiện ra biển Đông.
Cứ nhìn vào hàng triệu nông dân đang tiếp tục mất đất và bị gạt qua bên lề nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa sẽ nhận rõ số phận dân oan đi khiếu kiện.
E. Nông dân Việt Nam ngày nay.
Mấy tháng qua, vấn đề tam nông được đảng và báo chí quan tâm, nên đời sống của nông dân đã được chính thức phơi bày nhiều phần. Chúng tôi xin tóm tắt thực trạng đó như sau:
1. Nghèo và lạc hậu.
- Ông Thành Trung trong bài “Hãy nghĩ tới miếng cơm của dân nghèo” cho biết về tổng quan, “theo Ngân Hàng Thế Giới, Việt Nam có 13.5 triệu người sống nghèo khổ, trong đó có 5-6 triệu người nghèo lương thực. Căn cứ vào ngưỡng nghèo mới do Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội quy định năm 2006 thì mức thu nhập 260.000 đồng/người /tháng ở thành thị bị coi là nghèo, còn ở vùng nông thôn thì con số này là 200.000 đồng.
Theo ước tính của Viện Khoa Học Xã Hội, hiện nay có 7 triệu nông dân không có đất canh tác và tình trạng này sẽ tiếp diễn khi dân số ngày càng tăng kéo theo sức ép về việc làm trong nông nghiệp”
(Doi-thoai.com/26/2/08)
- Ông Nguyễn Huệ Chi trong bài “Mấy chữ “cư trần lạc đạo” và vấn đề hòa gỉải – hòa hợp dân tộc” viết: “Khoảng 60-70% nông dân lâm cảnh bần hàn, tệ hơn trước vì họ đã làm không đủ ăn lại sống trong một môi trường độc hại và ngày càng bị thu hẹp”
(Talawas/11/6/07)
Đó là những con số tổng quát, còn đi vào cụ thể thì ở miền Nam, ngoài cái nghèo của Khánh Bình Tây (Cà Mau) đã nói trên, xin ghi thêm ít điều của nhà báo Võ Đắc Danh qua cuộc nói chuyện với phóng viên báo Người Đô Thị, Nguyễn Thị Ngọc Hải:
Phóng viên: Anh viết nhiều về nông dân, vậy anh thấy đời sống họ có khá lên? Không lẽ họ không được hưởng lợi gì (dù ít hơn) trong cuộc chuyển đổi kinh tế và phát triển đất nước?
Nhà báo Võ Đắc Danh: Nông thôn nghèo hơn. Xơ xác. Chị thử đi một lần. Ra khỏi đường nhựa là nhà không ra nhà, người không ra người, bần cùng tăm tối. Tôi đã có làm phim tài liệu giữa rừng U Minh. Cảnh con nít mặt mày vằn vện ăn chuối luộc thay cơm, khán giả không cầm được nước mắt. Miền Tây thì những người không nhà cửa, sống trên ghe giăng câu thì nhiều.
(viet-studies.info/NTNgocHai_VoDacDanh.htm/11/1/2008)
Đó là cái nghèo, lạc hậu ở nông thôn miền Nam, còn ở miền Bắc thì Nam Đan trong bài “Lúng liếng là lung liếng ơi” đã ghi lại cảnh nghèo ở làng Diềm tỉnh Bắc Ninh như sau:
“Xe đỗ ở đầu làng. Hai đứa bé khoảng 4, 5 tuổi đang ngồi chơi thơ thẩn bên thềm nhà tò mò nhìn chúng tôi. Một đứa ở truồng khoe bụng vẫy tay chào rồi cười hồn nhiên. Hai bên đường làng là những ngôi nhà lợp ngói, tối và cũ kỹ. Dọc vệ đường, rơm rạ được bó lại từng bó để phơi. Người ta còn phơi rơm trên các mái nhà. Nhìn đâu cũng thấy rơm rạ, trước sân mỗi nhà có một ụ chất cao. Tháng này đang vào ngày mùa, mọi người đều bận rộn gặt hái nên đi suốt quãng đường tôi không thấy bóng dáng các thanh niên. Phân trâu bò vương vãi trên đường. Phảng phất trong không khí mùi phân ải, mùi rơm rạ, mùi đồng đất, mùi nắng gió… tất cả tổng hợp lại thành một mùi rất đặc trưng: “Mùi thôn dã” của đồng quê Bắc Việt. Cũng là nông thôn như nhau, nhưng khứu giác của tôi cho biết mùi thôn dã này khác hẳn với cái mùi mà tôi đã gặp ở đồng ruộng các tỉnh Nam bộ. Loa phát thanh chương trình tin tức, thời sự trong ngày vang vang trên cao, loáng thoáng những từ “chỉ tiêu”, “năng xuất” được lặp đi lặp lại nhiều lần. Một người đàn bà nặng nhọc kéo chiếc xe cút kít đóng thùng gỗ chất đầy rơm rạ, sau xe có một thằng bé đẩy giúp mẹ, hai mẹ con bước chậm từng bước, lưng gò xuống, những ngón chân bấu lại cố bám lấy mặt đường trơn, chiếc nón lá che sụp tầm mắt của chị.
Tôi có cái cảm giác thời gian trong ngôi làng này cũng lừ đừ lặng yên như dòng nước của con sông Đuống chiều nay. Một thứ thời gian ngầy ngật nặng nề như sau một cơn say mà con người không muốn ngồi dậy. Quang cảnh trong mắt tôi là một hiện thực không đổi của nông thôn miền Bắc Việt ở đầu thế kỷ trước mà tôi được xem qua phim ảnh. Yên bình nhưng trầm buồn. Và nghèo, nghèo quá! Tôi cảm thấy rợn trên da mình những ngọn gió thổi se sắt qua cánh đồng chiều mùa đông lạnh trong màn mưa chùng hiu hắt.
“Đồng chiều cuống rạ…” (Thơ Hoàng Cầm).
(Talawas/10/3/08)
2. Sống dưới sự đe dọa.
Phải sống trong cảnh nghèo, nhưng người nông dân còn bị nhiều thứ đe dọa bao quanh:
Thứ nhất là sưu cao thuế nặng:
Tháng 10 năm 2007, chính quyền công bố bãi bỏ tổng cộng 340 loại lệ phí (thuế) và hứa hẹn sẽ miễn các khoản thu phí về thủy lợi, an ninh quốc phòng, chống bão lụt, xây dựng điện, đường, trường, trạm. Với con số 340 loại phí cùng một loạt lệ phí khác, có lẽ khó có thể hình dung được là nông dân phải đóng bao nhiêu loại thuế và khi miễn mấy trăm thứ thuế này thì còn phải đóng bao nhiêu loại thuế nữa. Một bát quái trận đồ thuế khóa! Thu ra sao và kiểm soát thế nào?
Khi chính quyền Việt Nam công bố bãi bỏ 340 loại phí, Đài Phát Thanh Tự Do (Radio Free Asia) có liên lạc trực tiếp một số nông dân ở miền Nam để tìm hiểu tình hình thực tế về các khoản thuế, phí mà họ phải đóng hàng năm thì mọi người đều chung một tâm trạng vô cùng bức xúc với câu: “Đóng nhiều lắm. Mỗi năm đóng tùm lum hết và không biết đâu mà kể. Đóng hoài”.
Chuyện thuế rối rắm, nên người dân dùng tiếng “tùm lum”, còn ông Vũ Trọng Khải trong bài “Thực trạng chính sách phát triển nông thôn hiện nay”, khi phê phán những nhà hoạch định chính sách đã làm theo ý thích chủ quan mà không căn cứ trên nghiên cứu thực tiễn, không nhìn vào cuộc sống của người dân, nên mới tạo ra thảm kịch “Một hạt thóc gánh 40 khoản phí”. Ông Khải chỉ dẫn cái tên bài phóng sự mà không nói rõ chi tiết, nhưng con số đó cho thấy rõ tiếng “tùm lum” đáng sợ của nông dân.
Thứ nhì là sự áp chế:
Để thấy cảnh sống này, xin dẫn ít lời của nông dân theo bản tin “Nông dân bức xúc vì phải gánh chịu hàng trăm khoản thuế phí khác nhau” của đài RFA (12/6/07):
- Bà Sếu, thuộc tỉnh Long An, nói: “Ở khu vực này đều là dân nghèo không à, mần ngày nào ăn ngày nấy. Thì bây giờ tới khoản đóng tiền mà không có cũng phải chạy, không có thì nó mời”
- Một nông dân ở Tiền Giang nói: “Cũng muốn lắm chứ, nhưng giờ đâu có ai dám nói. Nói người ta không có nghe đâu. Nó chỉ có cầm được tiền thôi. Cũng như mình bức xúc vì đóng nhiều tiền quá thì mình cũng nói lên. Mà mình nói lên thì nó nói sao mình chống đối, vậy đó”.
- Một nông dân ở Long An nói: “Người dân hồi nào tới giờ chịu quá nhiều cái đau khổ. Nghe đất nước hoàn toàn giải phóng mà người dân chưa được quyền gì tự do hết, chưa được quyền làm chủ cái gì hết. Cái gì cũng thuế má, quỹ, quỹ này quỹ kia đủ thứ, người dân chịu mọi mặt. Người dân mong muốn sự miễn giảm như thế nào về địa phương phải làm sao cho cán bộ nó thông suốt, chớ cán bộ rất là ăn hiếp dân”.
Thứ ba là lo mất đất:
Dân oan khiếu kiện
|
Việc nhà nước thu hồi đất cho khu công nghiệp, khu du lịch, khu đô thị, sân golf… trên khắp nước đã trở thành mối lo của nông dân. Để thấy cụ thể mối lo đó, xin trích ít điều trong bài “Mất đất, mất cả cơ nghiệp” của Đức Kế - Phong Cầm:
“ Năm 1998, khi quốc lộ 1 A chạy qua địa phận Bắc Ninh hoàn thành và đưa vào sử dụng cũng là thời điểm mở đầu cho quá trình công nghiệp hóa của tỉnh này. Lúc đó, hàng chục xã được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bắc Ninh chọn để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị. Và đương nhiên, việc thu hồi đất nông nghiệp với diện tích không nhỏ cũng diễn ra rầm rộ. Hiện nay trụ sở công ty, nhà máy, xí nghiệp mọc lên khắp nơi. Tốc độ đất đai bị thu hẹp diễn ra nhanh đến chóng mặt. Theo thống kê của xã này, từ năm 1999 đến nay, Hoàn Sơn đã bị thu hồi tới 260/390 ha đất canh tác nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp Tiên, Hoàn Sơn, Đại Đồng. Nhiều thôn trên địa bàn xã diện tích bị thu hồi lên tới 90 - 95%,, thậm chí một số hộ không còn tấc đất để cắm dùi.
Anh Định, một nông dân ở thôn Đoài than thở: Cả nhà có 7 miệng ăn, chỉ trông chờ vào 1 mẫu ruộng. Thế mà nay gia đình tôi đã bị thu hồi tới 7 sào để cho các doanh nghiệp xây nhà máy. Với 3 sào còn lại chắc chắn gia đình tôi sẽ không đủ ăn.
Còn chị Nguyễn Thị Biển, thôn Giang Liễu ngậm ngùi: Cả nhà có 6 nhân khẩu với 1.2 mẫu ruộng, nay đã bị thu hồi hơn một nửa. Tiền đền bù (25 triệu/sào) đã nhận và tiêu hết vào việc xây nhà. Số ruộng còn lại vừa xấu vừa khó canh tác nên không thể thu hoạch mỗi vụ 3 triệu đồng như trước đây. Nghe nói, số ruộng này tới đây cũng sẽ bị thu hồi nốt nên gia đình tôi đang rất lo, không biết nay mai sẽ sống bằng gì?
Theo khảo sát của Sở Lao Động, Thương Binh và Xã Hội Bắc Ninh, việc thu hồi đất của tỉnh này thời gian qua đã tác động đến khoảng 43.000 hộ dân (chiếm khoảng 20% số hộ) với khoảng 220.000 người bị ảnh hưởng, tương đương ¼ dân số toàn tỉnh”.
(Tienphong online/23/05/08)
Thứ tư là môi trường ô nhiễm:
Sông Thị Vải bị ô nhiễm nặng nề
|
Trên 10 năm qua, nông dân nhiều vùng Bắc, Trung, Nam đã đụng phải nạn ô nhiễm môi trường độc hại. Nhưng chỉ mấy tháng qua, từ vụ công ty sửa chữa tàu biển Hyundai Vinashin thải hàng triệu tấn hạt nix thải, dầu nhớt, bụi bẩn, làm ô nhiễm môi trường vùng biển Khánh Hòa đến vụ công ty Vedan hủy diệt sông Thị Vải… báo chí Việt Nam mới rộn lên những bài phóng sự về vấn đề ô nhiễm môi trường và người dân mới biết là khắp Bắc Trung Nam, ở đâu cũng bị ô nhiễm. Xin tóm tắt một số sự việc từ báo chí Việt Nam nói về tình cảnh phải sống với ô nhiễm của người nông dân:
- Ông Lãng Quân trong bài “Nông thôn, một thùng rác đẹp” cho biết nông thôn ngày nay nhà nước đã bỏ lơ (hay đồng lõa) để cho những con buôn vô nhân đạo hoành hành. Vì thế nông thôn đã trở thành vùng đất tiêu thụ đủ các loại hàng độc hại: Với thực phẩm thì đó là những loại hàng sắp hết hạn sử dụng, hàng mập mờ quá đát, hay hàng ế, hàng thải, hàng lừa đảo. Với thuốc men thì đó là những loại hết hạn hay sắp hết hạn, người ta gọi đó là thuốc “nhà quê”.
(vietimes.vietnamnet.vn)
Ngoài thùng rác đẹp này, nông dân còn là nạn nhân của những dòng sông đã chết hay sắp chết do những công ty ngoại quốc và hàng chục ngàn công ty quốc doanh của đảng Cộng Sản thi nhau làm ăn vội vã (chỉ biết lập nhà máy và dùng sông để chuyên chở chất thải của nhà máy) tàn phá mà năm 2006, phúc trình của Liên Hiệp Quốc đã cho biết 10.000 cây số sông ngòi ở Việt Nam bị ô nhiễm nghiêm trọng bởi các nhà máy sản xuất đã đổ chất thải độc hại ra sông không qua khử lọc. Đó là con số tổng quát, còn bây giờ thì những dòng sông đó đã được báo chí nêu tên như sông Hồng, sông Cầu, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Lừ, sông Sét, phá Tam Giang, những sông hồ miền cao nguyên Kon Tum, Pleiku, sông Vàm Cỏ Đông, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Tiền, sông Hậu… Quá nhiều bài báo nói về thực trạng ô nhiễm của các dòng sông, nên ở đây xin ghi lại mấy dòng sông tiêu biểu:
- Bài “Sông Nhuệ - Đáy ô nhiễm nghiêm trọng” trong Lao Động cuối tuần (9/12/07) đưa tin: “Kết quả kiểm tra cho thấy sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét chảy qua Hà Nội đã ô nhiễm nghiêm trọng. Về nguyên nhân gây ô nhiễm, theo các cơ quan chức năng thì trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang có nhiều nguồn nước thải gây nên tình trạng ô nhiễm nước sông mà chỉ tính riêng Hà Nội đã đóng góp 54% lượng nước thải sinh hoạt của toàn khu vực, tiếp đến là Hà Tây với 17%. Số liệu thống kê cho thấy toàn lưu vực đang có khoảng 26.300 giường bệnh (trong đó Hà Nội chiếm tới 47%) thuộc hơn 1400 cơ sở y tế, với lượng nước thải y tế ước tính khoảng hơn 10.000 m3/ngày và nước thải bệnh viện không hề được xử lý mà đổ thẳng vào các dòng sông.
Đến nay toàn bộ lưu vực sông Nhuệ - Đáy có hàng ngàn doanh nghiệp công nghiệp, trong đó Hà Nội chiếm 67% số cơ sở. Hoạt động của các cơ sở này đã phát sinh nhiều chất thải (rắn, lỏng, khí) gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy đang có tới khoảng 6, 70% dân số toàn lưu vực sản xuất nông nghiệp đang gây ảnh hưởng đến môi trường nước do sử dụng phân bón và thuốc BVTV không đúng quy cách”.
- Bài “Việt Nam là một quốc gia thiếu nước” đưa tin: “Tại hội thảo, Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Đồng Nai cho biết một thông tin rất đáng ngại: Tại một số khu vực gần Biên Hòa, nước sông có hàm lượng coliform vượt chuẩn từ 186 đến 920 lần, có nơi đến 1860 lần! Xem ra so với sông Sài Gòn, sông Đồng Nai cũng chẳng “mạnh khỏe” hơn bao nhiêu.
Nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng hệ thống sông Đồng Nai? Các cơ quan chức năng cho biết mỗi ngày sông Đồng Nai phải tiếp nhận khoảng 60.000 m3 nước thải từ các cơ sở sản xuất phân bổ trong 24 khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Đó là chưa tính lượng nước thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài khu vực công nghiệp. Hầu hết lượng nước thải ấy lại thải trực tiếp mà chưa qua xử lý.
Tình hình trên sông Thị Vải lại ảm đạm theo một hướng khác: Đây là con sông ô nhiễm nhất hệ thống (cũng do phải hứng nước ô nhiễm từ các khu công nghiệp dọc hai bên bờ) đến nỗi có cả một đoạn dài trên 10 km, từ hợp lưu Suối Cả - Thị Vải đến khu công nghiệp Mỹ Xuân đã biến thành đoạn sông chết.
Xét sơ sơ trên hai con sông lớn thuộc hệ thống sông Đồng Nai là thế. Còn trong tổng thể, toàn hệ thống sông Đồng Nai đều mỗi ngày vẫn phải tiếp nhận khoảng 1.73 triệu m3 nước thải sinh hoạt. Trong lượng nước thải khổng lồ này, các chuyên gia xác định có đến 702 tấn cặn lơ lửng, 756 tấn COD, 421 tấn BOD5, nhiều vi trùng gây bệnh và các tác nhân gây ô nhiễm khác. Dự kiến đến năm 2010, hệ thống sông Đồng Nai còn tiếp nhận thêm khoảng 1.54 triệu m3 nước thải công nghiệp với nhiều chất độc hại, kim loại nặng…”.
(Laodong online/2/7/08)
- Ông Kiến Giang trong bài “Cần Thơ: Công khai bức tử sông Hậu” cho biết tháng 3/2008, hội thảo “Khoa học phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất khu vực đồng bằng sông Cửu Long: Triển vọng và thách thức”, tổ chức tại Long An đưa ra con số thống kê: Đồng bằng sông Cửu Long có 113 khu - cụm công nghiệp với 12.757 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên diện tích khoảng 24.000 ha đất, mỗi năm thải 42.7 triệu m3 nước thải công nghiệp, 220.000 tấn rác thải công nghiệp. Các khu công nghiệp này cạnh sông Tiền, sông Hậu và đến nay chưa có khu công nghiệp nào có hệ thống xử lý nước thải tập trung”.
(Tienphong online/29/9/08)
3. Tương lai vô định.
Trong cái nghèo với đời sống bất ổn, người nông dân nghĩ gì về nghề nông với xóm làng? Câu hỏi này khó có có thể trả lời một cách rốt ráo, nhưng có thể hiểu phần nào qua cuộc hội thảo về tam nông và một số bài báo nói về chuyện tam nông là hiện nay có nhiều nông dân chán ruộng, chán quê.
Nông dân làm lụng cực nhọc, nhưng không đủ sống
|
Về chán ruộng, hai nhà báo Đức Kế - Phong Cầm, trong bài “Làm quần quật, mỗi ngày được 1 bơ gạo” viết: ‘Muôn đời nay, người nông dân gắn liền với con trâu, cái cày, thửa ruộng. Thế nhưng, vài năm trở lại đây, lại không ít địa phương trên cả nước, hiện tượng người dân chán ruộng “ly nông” và “ly hương” ngày càng nhiều. Riêng ở Thái Bình, hiện tượng người dân đất lúa Thái Bình bỏ hoang hoặc trả lại ruộng cho hợp tác xã bắt đầu diễn ra từ năm 2003, nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Theo giải thích của ông Bùi Công Trứ, phó bí thư đảng ủy xã Tân Hòa, nguyên nhân bà con nông dân bỏ ruộng là do thu nhập từ nông nghiệp quá thấp, nhất là giá vật tư nông nghiệp như đạm, lân, kali, thuốc trừ sâu… tăng vùn vụt, quá sức chịu đựng của người dân.
Ông Đào Trọng Thu, một nông gia xã Vũ An cho biết: Tổng chi phí đầu vào cho 1 sào khoảng 500.000 đồng. Nếu được mùa, mỗi sào (360 m2) cho thu hoạch 3 tạ thóc, với giá 520.000 đồng/tạ như hiện nay thì được 1.560.000 đồng. Trừ cho phí đầu vào còn lại 1.060.000 đồng. Số tiền này chia cho 180 ngày (đất hai vụ lúa, mỗi vụ 6 tháng) thì mỗi ngày công của người dân chưa được 6000 đồng. Đối với các hộ dân không có tư liệu sản xuất (trâu bò, máy tuốt lúa) thì con số này chỉ khoảng 3000 đồng, tương đương 6 lạng thóc (hơn 1 bơ gạo). Trong khi đó, một ngày công phụ hồ xây dựng cũng được 20.000 – 25.000 đồng (kèm bữa ăn trưa). Chính vì thế người dân khắp nơi bỏ ruộng đi làm thuê. Theo một thống kê chưa đầy đủ, hiện trung bình mỗi xã trong tỉnh có từ 500 đến 700 lao động nông nghiệp thường xuyên đi làm ăn xa. Do đó, lực lượng lao động làm nông nghiệp trong tỉnh chủ yếu là người già và trẻ em”
(Tienphong online/22/5/08)
Còn chuyện nông dân chán quê thì Luật sư Trần Lâm trong bài đã dẫn ở phần trên, viết: “Từ lâu, sinh đẻ có kế hoạch bị quên lãng. Dân số nông thôn tăng đột biến, ruộng đất ít, không nghề phụ, sau mùa cấy gặt, không có việc làm. Trường học phổ thông sừng sững khắp nơi. Chất lượng thật yếu kém: Phạm Văn Đồng đã nói từ những năm 60, thế kỷ trước “Có một thìa đường mà pha đến ba cốc nước thì uống làm sao được”. Trừ các làng nghề, không có nơi nào có trường dạy nghề. Số thanh niên vào nhà máy có vốn nước ngoài đa số là nữ, lao động 12 giờ/ngày, đói khổ, cái “xóm không chồng” của thanh niên xung phong trước đây như đang chờ đón các em. Số khác kiếm sống bằng mọi cách, đi khắp nơi. Có người đọc các báo của công an thốt lên: Sao mọi tệ nạn, mọi tội phạm toàn thấy thủ phạm là các em ở nông thôn ra tỉnh”.
Chuyện chán quê không phải chỉ tìm đường lên thành phố mà còn tìm đủ cách vươn xa hơn là ly hương ra nước ngoài. Vì thế, hàng chục năm qua, mấy trăm ngàn người đã tới được các nước Đại Hàn, Đài Loan, Singapore, Mã Lai, Nhật và nhiều quốc gia ở Trung Đông…, nam thì làm lao động chân tay, nữ thì làm công nhân, làm người ở, làm nô lệ tình dục… Và hàng năm, Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã Hội đã rất vui khi công bố những hợp đồng xuất khẩu lao động.
Nửa thế kỷ làm cách mạng xã hội chủ nghĩa giải phóng nông dân để đến nay, theo nhận định của Luật sư Trần Lâm thì “mọi người phấn đấu để con cái ly nông, ly hương, coi như mục đích tối cao của cuộc đời”.
III. Nghĩ gì.
Qua những phần trình bày trên đây về nông dân Do Thái và nông dân Việt Nam, chúng tôi có một số nhận định như sau:
1. Về cộng đồng nông thôn.
Từ quan niệm quốc gia giống như cây cối, phải có sự bắt rễ vào đất, người Do Thái trở về Palestine đã lấy nông nghiệp làm nền cho việc phục quốc, và họ đã xây dựng cộng đồng nông thôn, gồm những làng kibbutz và moshav, trên 3 cột trụ là dân tộc, dân chủ và xã hội.
Trên trụ dân tộc, người Do Thái đã thiết lập làng để phục quốc và phục hưng văn hóa
truyền thống Do Thái, vốn đã bị vùi dập sau hơn 2000 năm con dân Do Thái phải lưu lạc trên khắp thế giới.
Trên trụ dân chủ, người Do Thái đã thiết lập cơ chế dân chủ trực tiếp trong việc điều hành trong kibbutz và moshav: Đồng quyền, đồng lợi và đồng nghĩa vụ. Họ coi dân chủ là hiện thân của giá trị làm người. Vì họ đã là nạn nhân của những chế độ kỳ thị chủng tộc, và những chế độ chuyên chế ở Nga và Đông Âu.
Trên tiến tình phát triển chính trị, sau khi quốc gia Israel được thiết lập, nông dân Do Thái đã đóng vai trò then chốt trong việc thiết lập cơ chế dân chủ ở thượng tầng: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Còn ở nông thôn, các kibbutzim đã tập hợp thành những Liên Đoàn (federations) trong đó 2 liên đoàn lớn nhất là United Movement và Kibbutz Artzi movement (khoảng 90% kibbutzim), số còn lại nhập vào các kibbutzim nghiêng về tôn giáo như Kibbutz Dati.
Cũng trên tiến trình đó, các moshavim đã kết hợp với nhau thành những khối tham gia vào những đảng chính trị khác nhau, trong đó đa số nhập vào đảng Lao Động (Labor Party), số còn lại nhập vào những đảng tôn giáo.
Trên trụ xã hội, chịu ảnh hưởng từ phong trào xã hội chủ nghĩa ở Nga và Đông Âu, người Do Thái đã thực hiện một chế độ bình đẳng giữa các thành viên trong kibbutz và moshav. Trên nền tảng dân chủ tự nguyện và tự trị, cộng đồng nông thôn Israel đã phát triển vững mạnh về kinh tế, chính trị và văn hóa. Và điều cần nói là từ nền dân chủ, nông dân Do Thái đã có thể chuyển đổi thích ứng với đà tiến của nền kinh tế kỹ thuật cao trên hướng đa diện hóa các ngành sản xuất để thu dụng nguồn nhân lực mà ngành nông nghiệp cần phải giảm.
Nông dân Do Thái
|
Nông Dân Việt Nam
|
Còn Việt Nam thì cộng đồng nông thôn đã tồn tại hàng ngàn đời với chế độ kinh tế hữu sản. Nhưng dưới chế độ Cộng Sản, cơ cấu ấy đã bị phá hủy và đảng Cộng Sản đã tổ chức nông thôn theo một hệ thống mới là đảng ủy và hợp tác xã.
Với đảng ủy, đảng Cộng Sản đã áp đặt nền cai trị chuyên chính tới tận thôn ấp. Còn với hợp tác xã, nông dân thành vô sản làm công cho đảng và nhà nước Cộng Sản theo tương quan chủ - nô, phải gọi như thế vì dân trong hợp tác xã phải sản xuất và được phân phối theo lệnh đảng ủy.
Chế độ chuyên chính vô sản có thể phá vỡ cơ cấu truyền thống dễ dàng, nhưng tới xây dựng cơ cấu mới đã thất bại. Vì hợp tác xã do đảng quyền ép buộc với con người vô quyền đã trở thành cơ cấu nhà tù mà kết quả là chế độ đảng ủy – nông nô đã dìm nông thôn Việt Nam vào bần cùng lạc hậu trong mấy chục năm qua.
Ở đây cần nói thêm một điểm là chế độ tập thể của kibbutz và hợp tác của moshav khác với chế độ đảng ủy và hợp tác xã ở Việt nam. Vì trong hoàn cảnh đặc biệt của Do Thái, người Do Thái phải tạo dựng làng tập thể và làng hợp tác, nhưng họ đã hoàn toàn tự ý và tự nguyện để cùng nhau lập làng và họ có quyền tự do đổi từ kibbutz này qua kibbutz khác, hoặc bỏ kibbutz để ra ngoài làm ăn sinh sống theo ý họ muốn. Thêm một điểm nữa là người Do Thái muốn nhập vào một kibbutz không dễ dàng, vì họ phải qua một giai đoạn thử thách xem có thích hợp với đời sống tập thể hay không. Chẳng hạn thủ tướng Ben Gurion, khi về hưu năm 1953, muốn vào kibbutz Sde-boker ở sa mạc Negev đã phải xin nhóm thanh niên đang lập làng cho ông gia nhập và trong 2 năm ở Sde-Boker ông đã được phân công nhiệm vụ chăn cừu.
2. Về văn hóa.
Theo những nhà nghiên cứu lịch sử Do Thái thì đợt Aliya II, người do Thái từ Nga đã đem chủ nghĩa xã hội về Palestine, vì trong đó có nhiều người chịu ảnh hưởng chủ nghĩa xã hội và có cả những chiến sĩ xã hội chủ nghĩa đã tham dự vào cách mạng 1905 ở Nga. Vì thế, khi về Palestine họ đã vận dụng chủ nghĩa xã hội ở mặt tổ chức và cổ võ sự bình đẳng xã hội trong việc tổ chức công nhân và nông dân thành lực lượng thống nhất để đấu tranh cho việc tái lập quốc gia Do Thái. Và tiến trình này đã diễn ra với những nhà xã hội chủ nghĩa như Ben - Zvi, Moshe Sharett, Levy Eshkol, Golda Meir và Ben Gurion và những tổ chức chính trị mà họ đã lãnh đạo như Poalei Zion (Zionist Workers), Yishuv (Jewish Community of Palestine), một tổ chức gần như là chính quyền của Do Thái ở Palestine trước khi thành lập Israel, Histadrut (Labor Federation), và đảng Mapai (Labor Party), nhưng ở đây không thấy những tổ chức này cổ võ đấu tranh giai cấp, cổ võ văn hóa vô sản Marxit – Leninit trong khi ở Palestine đã có những tầng lớp Do Thái kinh doanh giàu có ở thành phố và nhiều điền chủ ở nông thôn. Còn chuyện xây dựng cộng đồng nông thôn với sự hình thành kibbutz và moshav cũng không do sự áp đặt của những tổ chức trên mà do những người di dân tìm cách thích ứng hoàn cảnh, và sẵn có ý thức bình đẳng xã hội chủ nghĩa nên họ đã dễ chấp nhận hai hình thức tổ chức làng này để có thể sống còn, phát triển và thực hiện ước nguyện phục quốc.
Từ đó, chúng ta thấy là những nhà xã hội chủ nghĩa từ Nga về đã là những người vạch đường lối đấu tranh và sau đó xây dựng Israel, nhưng họ đã không cổ võ văn hóa vô sản Marxit Leninit mà phục hưng văn hóa dân tộc Do Thái như chúng tôi đã đề cập ở phần trên. Để nhìn cụ thể hơn về chuyện này, chúng tôi xin dẫn Ben Gurion, vì ông là người tiền phong đi lập làng kibbutz, là người lãnh đạo Histadrut và Yishuv, là người đọc tuyên ngôn thành lập quốc gia Israel và giữ chức thủ tướng trong 13 năm, nhưng lại là người xây nền chính trị dân chủ, là người phục hưng và tin tưởng vào văn hóa dân tộc Do Thái như ông đã nói về sứ mệnh của người Do Thái lập quốc:
“Aliya không có nghĩa là chỉ đem người Do Thái tới bờ biển Israel, mà còn có nghĩa là giúp họ bắt rễ vào đất quê hương và nền kinh tế độc lập trong ngôn ngữ Do Thái, trong di sản tâm linh và những giá trị của quốc gia; đem đến cho họ niềm hãnh diện và niềm tin dân tộc cùng ý chí, khả năng xây dựng, bảo vệ đất nước, và khuôn đúc một xã hội mới, đặt căn bản trên tự do, công lý và sự hợp tác”.
Và ông đã tin tưởng vào sự trường cửu của nền văn hóa đó:
“Chúng ta đã lưu truyền di sản tâm linh của quá khứ và nâng nó lên với những thành tựu tâm linh của thế hệ này và những thế hệ tương lai. Một lần nữa, ánh sáng sẽ tỏa sáng từ Zion tới những người Do Thái ở khắp nơi và tới những dân tộc trên thế giới. Chúng ta sẽ hòa nhập những kho tàng truyền thống của chúng ta với những tác phẩm tinh thần của cả loài người”.
(David Ben Gurion, sđd, trg. 60,94)
YitzhakBen-Zvi
|

Joseph Stalin |
Từ chuyện người Do Thái gìn giữ nguồn văn hóa tâm linh của họ, nhìn lại Việt Nam trên nửa thế kỷ qua, chúng ta thấy một sự kiện khác với Do Thái là đảng Cộng Sản Việt Nam trên đường thực hiện cách mạng vô sản Mac xit - Leninit đã hủy diệt văn hóa dân tộc truyền thống, vì coi nền văn hóa đó là tàn tích phong kiến phản động, cổ hủ và lỗi thời. Sự tàn phá này đã kéo dài trên 40 năm, ở miền Bắc 20 năm (1954-75) và trên cả nước cho tới những năm cuối thập niên 1990, khi tổ quốc xã hội chủ nghĩa Liên Sô sụp đổ thì đảng Cộng Sản Việt Nam đành phải quay lại với văn hóa dân tộc. Vì thế, Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng Sản khóa VIII đã họp hội nghị lần thứ 5 để bàn chuyện văn hóa và ra nghị quyết “Về xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Sau 40 năm tàn phá, nay quay về tính chuyện làm lại thứ văn hóa phong kiến phản động, nhưng kết quả của 40 năm tàn phá đó ra sao thì mấy nhà văn hóa của đảng Cộng Sản đã có một số tổng kết. Xin kể:
- Nhà nghiên cứu Bùi Thiết cho biết:
“Chúng ta đã từng nghe nói về việc xóa bỏ văn hóa cũ xây dựng nền văn hóa mới, từng chứng kiến hàng loạt những hành vi đập phá văn hóa cũ và đưa vào những thứ được gọi là văn hóa mới… song thực tế khá phũ phàng: Những giá trị văn hóa truyền thống bị loại bỏ mà vẫn chưa thấy đâu những cái gọi là văn hóa mới, hay đại bộ phận dân chúng trong khi bị cắt đứt với hàng loạt giá trị cũ truyền thống vẫn chưa được hưởng thụ cái gì là văn hóa mới. Chẳng hạn trong mấy chục năm qua, hàng loạt các đình làng, hội làng, những nếp sinh hoạt của làng xóm truyền thống bị loại bỏ, bị phê phán gay gắt mà dân làng chưa có cái gì mới thay thế vào đó, làm sao có thể làm cho người dân yên lòng, khi họ dường như trống vắng tất cả đến ghê sợ!”
(Bùi Thiết, Cảm nhận về văn hóa, Hà Nội: Viện Văn Hóa, 2000, trg. 50)
- Nhà văn Hoàng Quốc Hải cho thấy rõ hơn:
“Trở về vấn đề văn hóa tâm linh, là bởi trong văn hóa dân tộc của chúng ta, nhất là các sinh hoạt lễ hội có ít nhiều gắn bó với tâm linh. Mà tâm linh đôi khi lại là cặp bài trùng với tôn giáo. Phải nói chính quyền đã có khá nhiều biện pháp cứng rắn trong lĩnh vực này như cấm các hội lễ, phá chùa, đập tượng, dỡ bỏ hoặc ngăn cấm các đền thờ Mẫu, đưa đi cải tạo, bắt giam các người làm nghề bói toán, đồng cốt nhảm nhí… Đảng viên, đoàn viên phải từ bỏ các tôn giáo mình theo. Trong các gia đình phần lớn không còn bàn thờ tổ tiên. Các chùa chiền ở nông thôn nếu còn sót lại thì hoang phế, quạnh hiu, các điện thờ Mẫu ở các gia đình không được phép tồn tại. Các chùa chiền, đền miếu còn sót lại ở đô thị cũng vắng tanh vắng ngắt. Một số người già lui tới các nơi thờ phụng này, gần như là một sự lén lút. Tưởng như chúng ta đã triệt bỏ được tận gốc của vấn đề”.
“Thế hệ chúng tôi đã bắt đầu tỉnh ngộ, và thấy xót đau về những tổn thất nặng nề của nền văn hóa truyền thống. Thật là đại hạnh cho dân tộc, bởi còn có sự tỉnh ngộ…
Xin thưa…, việc phục hưng nền văn hóa dân tộc là một việc vô cùng phức tạp, và sẽ diễn ra rất chậm chạp, trải qua nhiều thế hệ, may ra mới vớt vát được phần nào, nó hoàn toàn không thể hấp tấp, vội vàng với tốc độ chóng mặt như khi phá được”.
(Hoàng Quốc Hải, Văn hóa phong tục, Hà Nội: Văn hóa thông tin, 2001, trg. 435, 467)
- Nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi trong bài “Mấy chữ “cư trần lạc đạo” và vấn đề hòa hợp- hòa giải dân tộc hiện nay” cho thấy tâm trạng bi quan:
“Hầu như mọi di tích đền, miếu, chùa chiền đều bị đập phá tan nát rồi lại sửa chữa vá víu hoặc làm lại, ít có cái nào còn ra dáng một di tích cổ (Đập phá kể từ những năm 1948, trong thâm ý chắc cũng nhằm mục tiêu hạn chế truyền thống đa nguyên văn hóa, may sao tiềm thức dân tộc đã âm thầm cưỡng chống, và rốt cục cưỡng chống thắng lợi). Mới trước Tết âm lịch 2007 đây thôi, tôi về thăm di tích đền Gióng, quá sửng sốt khi có 3 bức cuốn thư rất đẹp, khắc 1 bài thơ của cụ Hồ, 1 bài thơ của Tố Hữu, 1 bài thơ của Ngô Chi Lan, đều bằng tiếng Việt, treo ngay tiền sảnh ngôi đền lớn khi ta vừa bước chân vào. Hỏi người dân địa phương thì ra đấy nguyên là loại cuốn thư cổ khắc chữ Hán, bị bào đi để “tân trang” quốc ngữ. Và chẳng nói chi xa, cả một di tích Hoàng Thành vô giá kia, người ta có muốn bảo tồn thực hay không?”.
(Talawas/6/11/2007)
Bùi Thiết: đảng CSVN đã tàn phá hết văn hóa truyền thống
|
Tất nhiên chỉ sau Đại Hội VII và VIII, rồi hội nghị 5 với những nghị quyết về việc phục hưng nền văn hóa dân tộc, những nhà văn hóa của đảng Cộng Sản mới có thể viết những tập sách bàn về bản sắc dân tộc và thú nhận những điều trên đây. Các ông Bùi Thiết, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Huệ Chi đã thực tâm nói lên nỗi lòng của những người trí thức trước nạn tàn phá văn hóa truyền thống của cách mạng vô sản.
Riêng ông Bùi Thiết không những nói thật mà còn than là đảng Cộng Sản đã tàn phá hết văn hóa truyền thống, nhưng dân làng chưa có cái gì mới thay thế vào đó! Chúng tôi không hiểu tại sao ông Bùi Thiết là cán bộ văn hóa cấp cao mà lại than như thế, còn chúng tôi thì hiểu là đảng đã có một hệ thống văn hóa Marxit-Leninit thay thế văn hóa cũ với những điều mà dân Việt ai cũng phải học, phải làm sau đây:
Thứ nhất, đảng lấy giai cấp đấu tranh để thay ý thức sống thuận hòa giữa đồng bào.
Thứ nhì, đảng dùng độc trị với quyền uy tuyệt đối để thay thế vị trí của vua quan.
Thứ ba, đảng lấy Marx giáo thay thế đạo thờ tổ tiên, Nho giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo…
Thứ tư, đảng lấy mấy ông thánh Marx, Lenin, Mao, Hồ thay thế các vị Phật, thánh, thần, tiên tổ.
Thứ năm, đảng dùng những ngày lễ của đảng thay thế lễ hội của đình chùa, đền miếu.
Thứ sáu, đảng dạy ý thức vô sản và bắt sống vô sản để xây dựng xã hội chủ nghĩa, rồi tiến lên xã hội cộng sản.
………………………………..
Chắc hẳn đội ngũ trí thức văn hóa của đảng đã làm những việc này bằng đủ thứ chương trình với giáo dục, truyền thông, sách vở độc quyền, nhưng Marx giáo trái với bản chất sống của con người nên kết quả chỉ ở ngoài lông da, vì thế, khi tổ quốc Cộng Sản Liên Sô sụp đổ, đảng Cộng Sản Việt Nam đành phải trở về với những thứ mà đảng đã tàn phá như kinh tế tới cùng đường vô sản thì trở lại tư sản để làm ăn với tư bản, còn văn hóa tới cùng đường Marxit Leninit thì trở về với mùi vị “đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc”.
Từ chuyện văn hóa này, chúng tôi có thêm một nhận xét là những người đấu tranh dựng nước Do Thái cũng xã hội chủ nghĩa, cũng đủ thứ Marxit cánh tả, cánh hữu, nhưng đã không liệng bỏ văn hóa truyền thống mà giữ gìn, tôn vinh nó là linh hồn Do Thái. Và trên nền văn hóa đó, họ đã kiến tạo được một quốc gia Israel tôn trọng giá trị con người, giàu kinh tế và mạnh quốc phòng. Còn ở Việt Nam thì ngược lại là đảng Cộng Sản đã đã đem chủ nghĩa Marx Lenin về phá hủy văn hóa dân tộc để làm cách mạng vô sản và tạo nên một chế độ toàn trị bạo ngược với nước nghèo dân nhục.
3. Về con người.
Với Do Thái thì trên 2000 luân lạc, dân Do Thái đã bị các dân tộc khác kỳ thị, ngược đãi và tàn sát ra sao, phần trên đã trình bày. Vì thế, khi tìm đường về Palestine, người Do Thái có một khát vọng là tái lập quốc gia để được sống tự do với giá trị làm người. Và họ đã sống và dạy con cái sống với giá trị này ngay từ những buổi đầu trong những kibbutz với ý thức là một nông dân tự do và không bao giờ còn là một người Do Thái sống trong ghetto. Rồi sau khi quốc gia Israel được thiết lập thì giá trị người dân được tôn vinh với những quyền dân chủ chính trị, dân chủ kinh tế và dân chủ văn hóa trong một chế độ dân chủ đa đảng, gồm đủ các khuynh hướng: Tôn giáo, dân chủ xã hội và cả cộng sản mà trong đó có sự hiện diện của nông dân trong các kibbutz và moshav.
Nhìn lại Việt Nam thì trên nửa thế kỷ nay, người nông dân đã hy sinh nhiều trong đấu tranh, nhưng cuối cùng đã phải chịu nhiều thảm kịch dưới chế độ Cộng Sản, chế độ mà chính những tầng lớp nông dân đã góp phần lớn tạo dựng. Những thảm kịch này phần trên đã đề cập.
Ở đây xin đúc kết lại như sau:
Thứ nhất, nông dân đã trở thành con vật và con thú trong cải cách ruộng đất, vì đảng đã kích động hận thù để nông dân giết nhau. Những cách giết tàn bạo để người giết thành những con thú, còn người bị giết thành những con vật. Người Do Thái bị những dân tộc khác thù và giết, còn người Việt đã tự tạo nên hận thù để giết nhau.
Thứ nhì, nông dân đã thành nông nô dưới chế độ hợp tác hóa nông nghiệp, và giá trị làm người ở nông thôn đã được biểu hiện ở chỗ những người già già cúi đầu, chắp tay xá anh Đội, còn nông nô phải tôn xưng những ông chủ Cộng Sản là những bậc ban ơn với câu tung hô: Ơn Bác, ơn Đảng, ơn Nhà Nước như câu nhật tụng hàng ngày.
Thứ ba, từ thời cởi trói (1988) đến nay, nông dân trở thành tá điền thuê đất của đảng và chịu sưu cao thuế nặng, nhưng vô quyền, nên làm mà không dám nghĩ đến ngày mai, đến nỗi nhà văn Nguyên Ngọc đã phải nói: “Họ từng làm chủ lực quân vô cùng kiên cường bỗng trở nên lúc nào cũng nơm nớp lo sợ: Sợ mất đất, cái mảnh đất vốn đã không phải là của họ, họ cứ như được cho sống nhờ, bất cứ lúc nào cũng có thể bị thu hồi, bị chuyển đổi, bị đoạt mất. Cái thứ đất quen thân, thống thiết, máu thịt với họ thế, mà bỗng trở nên rất đỗi kỳ lạ, ở trong tay họ, khi họ bị tước đi thì giá chỉ có mấy đồng, nhưng chỉ cần chuyển sang tay doanh nghiệp nào đó, một ông nước ngoài xa lạ, sang trọng nào đó thì bỗng có giá hàng nhiều tỷ! (Bài đã dẫn).
Thứ tư, từ việc đảng thu hồi đất, cán bộ cướp đất, nhiều nông dân đã trở thành dân oan tới cửa quan cầu xin công lý. Nhưng quan không xét và khi nào dân oan tới nhiều quá làm phiền lãnh đạo thì quan ra lệnh cho công an nhân dân hốt quẳng lên xe chở đi, rồi liệng xuống ở một nơi nào đó như những con vật. Và cứ như thế quyền lực độc trị, và bạo lợi đã tạo thành chồng chất oan khiên. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ra nghị quyết phục hưng văn hóa dân tộc, nhưng tìm đâu ra thứ màu “đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc ở đây?
Cũng đất, cũng lao động mà sao nông dân Do Thái có thể sống an vui với giá trị làm người, còn nông dân Việt Nam lại đau khổ, nghèo đói và tủi nhục tới dường ấy?
IV. Làm gì ?
Thời hợp tác hóa với hợp tác xã, nông dân chỉ có thể nói lời nhớ ơn đảng, nhưng thời cởi trói với với chế độ kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, nông dân đã có thể tố cáo sự bất nhân của đảng, và hiển lộ những thảm kịch mà họ đã phải chịu. Đến nay thảm kịch nông dân bùng vỡ, không thể đàn áp mà cũng không thể che dấu, nên đảng Cộng Sản Việt Nam đã làm hai việc là cho phép báo chí, và một số trí thức thảo luận về tam nông, góp ý với đảng và họp Hội Nghị Trung Ương 7 để thảo luận về tam nông.
Sau đây chúng tôi xin tóm tắt tiếng nói của trí thức về tam nông và nghị quyết để giải quyết thảm kịch tam nông của đảng Cộng Sản.
1. Trí thức lên tiếng.
Trước hội nghị trung ương 7, Viện Chính Sách và Chiến Lược Phát Tiển Nông Nghiệp Nông Thôn, tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa Học và Công Nghệ), và báo Nông Thôn Ngày Nay đã phối hợp hội thảo chủ đề Người Dân Nông Thôn Trong Quá Trình Công Nghiệp Hóa tại Hà Nội (17/6/08) với sự tham gia của nhiều nhà quản lý, khoa học và văn hóa, nhằm góp phần hoàn thiện báo cáo về phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. Trong cuộc hội thảo ba vấn đề sau đây đã được các đại biểu quan tâm:
Về đời sống kinh tế văn hóa:
- Nhà văn hóa Nguyễn Quân cho biết là “trong điều tra xã hội học ở thành phố HCM thì chỉ tiêu của người dân dùng cho vui chơi giải trí chiếm 30% thu nhập, Hà Nội và Huế 20%, còn ở nông thôn gần như bằng 0. Nguồn giải trí chủ yếu ở nông thôn là các phim “cúng cụ”, thành phố không mấy người xem thì đưa về nông thôn. Nông thôn từ nơi tiêu dùng văn hóa một cách chủ động thì giờ trở thành nơi chứa các văn hóa cặn bã, phế thải từ thành phố về”.
Nhà văn hóa Nguyễn Quân
|
Phó giáo sư Trần Ngọc Vượng
|
- Phó giáo sư Trần Ngọc Vượng (Đại Học Quốc Gia Hà Nội) nhận định là “hai yếu tố cấu thành văn hóa làng là văn hóa Nho giáo và văn hóa tín ngưỡng, nhưng đến nay thì cả hai yếu tố văn hóa này đã bị tận diệt một cách không thương tiếc. Ông cảnh báo về sự sụp đổ của văn hóa làng và đặt câu hỏi: Chẳng lẽ chúng ta đành khoanh tay ngắm nhìn sự một đi không trở lại của làng, của văn hóa làng sao?”.
Về giáo dục:
Từ một nhận định tổng quát là giáo dục ở nông thôn từ nhiều năm nay luôn là vùng trũng giáo dục của cả nước, bài tổng kết cuộc hội thảo ghi lại một số ý kiến:
- Ông Nguyễn Minh Nhị, nguyên chủ tịch tỉnh An Giang, khái quát về chất lượng giáo dục ở vùng quê ông: tiến sĩ bằng đại học, đại học bằng cấp ba, cấp ba bằng cấp hai, cấp hai bằng cấp một, cấp một bằng mù chữ.
- Ông Nguyễn Minh Thuyết, phó Chủ Nhiệm Ủy Ban GDTTN&NĐ Quốc Hội cho rằng “nguyên nhân của thực trạng giáo dục không chỉ là do đời sống nhiều vùng còn quá khó khăn, đói nghèo mà còn là do một nguyên nhân khác là chưa có chính sách luân chuyển những giáo viên ở thành phố về nông thôn và ngược lại, phần lớn những giáo viên mới ra trường, chưa có kinh nghiệm thì đưa về nông thôn giảng dạy, không ít giáo viên yếu cả về phẩm chất và năng lực. Ông cho biết thêm một điều là hầu như không có một tổ chức nào(?) quan tâm đến việc dạy nghề ở nông thôn. Theo khảo sát của cả nước, đến năm 2006 vẫn còn 30.6 triệu lao động nông thôn, trong đó hơn 91% chưa qua đào tạo, chỉ 3% được đào tạo ở mức sơ cấp và trung cấp kỹ thuật”.
Về môi trường:
- Giáo sư Phạm Duy Hiển đưa ra một số nhận định: “Bụi ở nông thôn và thành phố tương đương nhau. Bụi ở thành phố là bụi mịn, bụi công nghiệp có thành phần độc hại hơn rất nhiều so với bụi thành phố, nên đừng có nghĩ là về nông thôn sẽ được hưởng không khí trong lành. Hiện nay sông Nhuệ và sông Đáy trong xanh đã là con sông chết. 500 xí nghiệp và nhiều làng nghề hoạt động trong vòng 15 năm nay đã thải không biết bao nhiêu chất thải độc xuống 2 con sông đó. Nhà nước đang có kế hoạch chi trên 3000 tỷ đồng để làm sống lại hai con sông chết này. Còn một thứ ô nhiễm cũng đáng sợ không kém cho nông thôn, đó là hàng rởm, hàng tồn kho, hàng hết đát… được cố ý trút về nông thôn. Từ nhận định này, ông Hiển đặt vấn đề là trong sự tăng trưởng của đất nước hiện nay, riêng về mặt môi trường sống, lẽ nào lại để những người nông dân làm nên thương hiệu cho một đất nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới lại phải chịu thiệt thòi nhất chính từ sự đóng góp của mình”.
Về sở hữu ruộng đất:
Luật sư Phạm Duy Nghĩa
|
- Luật sư Phạm Duy Nghĩa (Đại học quốc gia Hà Nội) cho rằng “vấn đề nhà nước ứng sử với quyền sử dụng đất đai của người nông dân tiềm ẩn ba nguy cơ lớn: Người dân bị mất đất, chán đất, chán quê. Vì vậy theo ông, hiến pháp năm 1992 và luật đất đai năm 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của người dân. Muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất… Đất đai của toàn dân thì nhà nước trả lại cho người dân cũng là một lẽ đương nhiên. Phải thay đổi cách nhìn về sở hữu toàn dân, tăng quyền tài sản tư đối với ruộng đất cho các gia đình nông dân, tôn trọng và nêu rõ thái độ của nhà nước sẽ bảo vệ sở hữu của họ khi cần thiết”.
Từ những nhận định về thực trạng tam nông trong cuộc hội thảo, trong phần góp ý về những việc phải làm, bản tổng kết ghi lại ý kiến của tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện Trưởng Viện Chiến Lược và Chính Sách Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn, về chiến lược và chính sách phát triển tam nông như sau:
Thứ nhất, nhà nước cần nâng cao mức đầu tư, tập trung vào phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng.
Thứ nhì, khuyến khích mở rộng quy mô sản xuất theo hướng gia trại, trang trại, liên kết trong các hợp tác xã, được tiếp thu khoa học công nghệ, phát triển sản xuất hàng hóa theo hướng chuyên canh, thâm canh.
Thứ ba, tổ chức dạy nghề, hỗ trợ thông tin, vốn liếng để một bộ phận lao động có điều kiện rời khỏi sản xuất nông nghiệp tham gia thị trường lao động công nghiệp và dịch vụ một cách thuận lợi, hỗ trợ cho bộ phận khác từng bước chuyển sang tham gia các hoạt động phi nông nghiệp tại nông thôn.
Thứ tư, tạo cơ chế thuận lợi để khi lao động chuyển khỏi nông thôn thì đất đai được giao vào tay những người làm ăn giỏi mở rộng sản xuất.
Thứ năm, đổi mới quản lý Hội Nông Dân theo hướng từng bước trở thành tổ chức thực sự đại diện (?) cho quyền lợi và tiếng nói của người nông dân, phát triển tổ chức cộng đồng nông thôn để người dân thông qua tổ chức này tham gia quản lý các hoạt động phát triển nông thôn.
(Xây dựng nông thôn phát triển bền vững, Tiasang.com/17/07.08)
2. Đảng và nghị quyết 7.
Trong hội nghị trung ương 7 (9-17/7/08), Ban Chấp Hành Trung Ương đã thảo luận về những vấn đề công nhân, nông dân và trí thức và ra nghị quyết về Công Nông Trí. Sau đây là nghị quyết về nông dân:
Thứ nhất, trong những năm tới phải xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng xuất chất lượng hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp dịch vụ, phát triển đô thị theo qui hoạch, xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo tốt môi truờng sinh thái, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng được tăng cường; nâng cao nhanh đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh ở các vùng còn nhiều khó khăn để không thua kém xa so với các đô thị.
Thứ nhì, trên cơ sở phân tích, làm rõ các mục tiêu cần đạt được từ nay đến năm 2020 và trước mắt đến năm 2010. Ban Chấp Hành Trung Ương đã thảo luận và xác định các nhóm giải pháp về quy hoạch (đất đai, sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, xây dựng nông thôn mới); xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội; tập trung đào tạo nguồn nhân lực, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho dân cư nông thôn, nhất là những vùng còn nhiều khó khăn, tăng cường sự lãnh đạo của đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước, phát huy sức mạnh của Mặt Trận Tổ Quốc và các đoàn thể chính trị xã hội ở nông thôn.
Từ nghị quyết 7 và cuộc hội thảo về tam nông, chúng tôi có mấy nhận định sau:
Thứ nhất, cuộc hội thảo đã chính thức nói lên thảm trạng của nông dân sau mấy chục năm biến đổi theo nhiều nghị quyết, một sự thật bức bách đang diễn ra hàng ngày, có muốn đè nó xuống, dấu nó đi cũng không được, nên đành phải nói để chứng tỏ trí thức có quan tâm đến số phận nông dân. Nhưng đến phần đề nghị giải pháp thì bản tổng kết chỉ ghi lại một số đề nghị của Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, một trí thức quan chức cao cấp của nhà nước mà không thấy ý kiến của những người khác. Đến nghị quyết 7 thì đó là những chương trình lớn đảng sẽ ban phát cho nông dân, nhưng chỉ 2 đoạn nghị quyết mà đảng phải nhấn mạnh đến việc tăng cường lãnh đạo của đảng tới 2 lần. Như vậy có lẽ 50 năm qua, nông dân vẫn chưa nhận được đủ sự lãnh đạo của đảng!
Thứ nhì, trí thức thú nhận thảm trạng của nông dân, nhưng không chịu nhận một điều hay không dám nói lên là đảng làm chủ đất với đảng quyền toàn trị là nguyên nhân tạo nên thảm trạng tam nông. Đó là một thứ dây trói mà nếu không mở thì nghị quyết to lớn đến đâu số phận nông dân vẫn là số phận của tá điền nô lệ trong trong cái vòng sinh sát của đảng.
Chuyện chủ đất đảng đã không xét lại, nhưng vấn đề đó đã trở thành cấp thiết nên trong dịp này một số trí thức đã lên tiếng. Ngoài luật sư Phạm Duy Nghĩa đã nói ở phần trên, xin ghi thêm hai vị nữa:
Nhà văn Nguyên Ngọc
|
- Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài “Đất và nông dân” đã viết:
“Nông dân, thời nào cũng vậy, xưa nay đều vậy, là cái nền của xã hội. Và cái nền thì không ồn ào, không hào nhoáng, không huênh hoang, nhưng chính vì là cái nền, nên xã hội sẽ không thể yên nếu cái nền không yên. Mọi sự phát triển, mọi bước đi tới sẽ chông chênh, nếu không đổ vỡ. Và cách củng cố, trả sức lại cho cái nền ấy là vô cùng quan trọng nhưng không khó, chỉ cần dám dứt khoát làm mỗi một việc: Trả toàn quyền có đất thật sự lại cho từng người nông dân. Khi nông dân đứng chặt chân trên mảnh đất thật sự của họ, của riêng họ thì chẳng ai chiến thắng nổi họ. Xã hội sẽ bền, đất nước sẽ vững chãi trong cuộc đi tới đầy sóng gió”
(Tiasang.com/2/7/08)
- Luật sư Trần Lâm, trong bài “Luật đất đai và tam nông” đã viết:
“Mọi người trong xã hội đều phải làm ăn sinh sống. Họ cần có sự quan hệ, trao đổi. Mọi quan hệ trao đổi đều dựa trên cái trục là sở hữu, sở hữu trí tuệ và sở hữu vật chất. Người không có sở hữu nào là người đứng ngoài xã hội… Mọi hạn chế con người phát triển tài sản riêng là trái với nhân tính… Những người cầm quyền chỉ có nhiệm vụ duy nhất làm mọi cách nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân, đó là làm cho nước giàu dân mạnh, nhiệm vụ này phải được thực hiện bằng cách tạo cơ hội, dẫn dắt người nông dân chủ động tự giác giải quyết cuộc sống của mình. Làm thay, mệnh lệnh hay nói mà không làm hoặc lờ đi là điều cấm kỵ.
Nghĩ đến đây thấy trong người ớn lạnh: Nông dân chiếm 80% dân số, 2000 năm họ dựng nước, giữ nước. Nước ta, nước nông ghiệp, mọi sự phát triển đều bắt đầu từ tam nông, thế mà ta để mọi thứ trên góc khuất!
Nói đến tam nông, việc đầu tiên là làm luật ruộng đất, cái cốt lõi là trả lại sở hữu cho người dân. Không có con đường nào khác, dù con đường này làm thương tổn đến chuyên chính, sự toàn trị của đảng cũng phải làm. Nếu không, nguy hại nó có thể làm chấm dứt sự toàn trị”
(Đối-Thọai.com/9/15/08)
Luật sư Trần Lâm
|
Trên đây là những tiếng nói can đảm và tâm huyết của những người trí thức cảm được sự khốn cùng của nông dân khi không có quyền là “chủ thật” một mảnh đất để sống trên quê hương mình. Nhưng đảng Cộng Sản đã không xét căn nguyên của sự tàn phá tam nông và chỉ sửa chữa bằng nghị quyết “chiếu cố” tam nông mà nhà báo Hữu Thọ (nguyên tổng biên tập báo Nhân Dân) trong cuộc phỏng vấn của báo điện tử Tổ Quốc (9/2/08) đã nói là “Đã thấy có cuộc sống trong nghị quyết 7. Đã xác định vị trí chiến lược của nông dân, nông nghiệp và nông thôn, là cơ sở lực lượng quan trọng để phát triển ổn định chính trị đất nước”. Nhận định thật lạ, vì nông dân chiếm 80% dân số và đảng đã vận dụng lực lượng nông dân để thực hiện đủ thứ chính sách cách mạng xã hội chủ nghĩa mà đến nay ông Thọ mới thấy có cuộc sống trong nghị quyết 7, mới xác định vị trí chiến lược của nông dân… thế thì 50 năm qua với những nghị quyết đã được đảng ban hành thì vị trí nông dân ở đâu để có cải cách ruộng đất, có hợp tác hóa, có khoán 100, khoán 10… Nông dân có uất hận không khi nghe những điều này?
Nhưng thôi, cứ coi với sự sửa sai “có cuộc sống” ở nghị quyết 7 là đảng sẽ đưa về nông thôn nhiều ngân sách hơn để làm những chương trình lớn “Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, đổi mới hoạt động các hình thức tổ chức sản xuất để xây dựng nông thôn mới”. Nhưng xin hỏi: Những chương trình này sẽ vào tay ai khi nông dân vẫn chỉ là tá điền vô quyền trên mảnh đất thuê của ông chủ đảng toàn trị. Nông dân nào có đủ khả năng, đủ vốn để ứng dụng khoa học công nghệ? Và nông dân nào dám mở rộng sản xuất theo hướng trang trại khi đất thuê chưa biết lúc nào sẽ bị thu hồi? Từ đó có thể hình dung thêm một thảm kịch là khi nông thôn được chia nhiều ngân sách hơn thì nông dân sẽ phải chịu nhiều bóc lột oan khuất hơn, vì đất sẽ bị cướp nhiều hơn để những ông lãnh chúa lập nông trại, điền trang và lấy ngân sách dành cho tam nông thiết lập hệ thống “Ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến, đổi mới hoạt động các hình thức tổ chức sản xuất”.
Cho đến nay, giai cấp địa chủ Đỏ đã lớn lắm mà nông dân cũng đang bị bóc lột trong nhiều nông trường của những ông lãnh chúa địa phương, thế mà đảng lại ra nghị quyết tạo cơ chế thuận lợi cho những ông quan vô sản thiết lập thêm nhiều điền trang hiện đại sản xuất lớn để tuyển dụng thêm đám nông dân vô sản. Tiếng khóc của dân oan mười mấy năm nay vẫn chưa thấu trời xanh và nay sẽ thêm nhiều tiếng khóc hơn. Vì dân vô quyền biết kêu ai trong một chế độ đảng trị mà người cai trị đã trở thành kẻ cướp nhân danh đủ thứ chính sách to lớn và được chế độ bảo kê.
Trước thảm trạng của nông dân, vấn đề sinh tử là trả lại quyền tư hữu đất đai để giải quyết tận căn cho sinh kế cùng ước nguyện của nông dân. Đó là sự hòa giải với con người theo truyền thống sở hữu đất đai của Việt Nam. Nhưng đảng Cộng Sản đã không làm mà tìm cách chạy quanh với mớ chữ nghĩa to lớn. Thứ vũ khí bất nhân “Thời Gian, Màn Trời Chiếu Đất và Công An” của đảng có làm kiệt sức nhiều dân oan, nhưng không thể dập tắt được nguồn uất hận đang tích tụ hàng ngày với oan khuất cũ còn nguyên đó và oan khuất mới gia tăng.
Hàng ngày nông dân mất đất. Hàng ngày dân oan trương biểu ngữ kêu cứu, thất thểu trên đường phố. Họ đi đâu, kêu ai mà ai cứu? Người ta lên tiếng rất nhiều trước nạn ô nhiễm, trước những con sông chết, nhưng hầu như lại im lặng trước thảm kịch dân oan, trước thảm trạng người cày thuê đất của đảng và bị tước đoạt. Ô nhiễm và những nỗi oan khiên. Những dòng sông chết và những người nông dân khốn cùng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đang sống với vinh quang hay đang sống với ô nhiễm, với những dòng sông chết, với những nỗi thống khổ của nông dân?
Nhìn vào thảm kịch ấy, chúng tôi xin thưa vài lời như sau:
Với quý vị trí thức:
Trước thảm kịch dân oan, năm 2007, Bác sĩ Nguyễn Đan Quế đã lên tiếng đòi đảng Cộng Sản trả lại quyền tư hữu cho dân. Và tới nay, trước và sau Hội Nghị Trung Ương 7 có thêm ba vị trí thức: Luật sư Phạm Duy Nghĩa, nhà văn Nguyên Ngọc và Luật sư Trần Lâm lên tiếng mạnh mẽ đòi công lý cho nông dân. Những tiếng nói đó lớn, nhưng vẫn chỉ là tiếng nói của một cá nhân. Cuối năm 2007, chỉ tập thơ Trần Dần bị thu hồi mà học giả Nguyễn Huệ Chi đã có thể thu được chữ ký của mấy trăm vị trí thức lên tiếng phản đối lệnh thu hồi. Thế mà một vấn đề sinh tử như thảm kịch dân oan, như việc đòi nhà nước trả lại quyền sở hữu đất đai cho nông dân lại chỉ có mấy người lên tiếng, rồi sau nghị quyết là im lặng, mọi chuyện coi như đã giải quyết xong. Không phải vậy. Đâu đã xong, vì cuộc đời nông dân vô sản còn nguyên đó và sẽ còn bi thảm hơn. Chuyện đó đơn giản, ai cũng biết như thế. Vì vậy chúng ta mong các vị trí thức nghĩ đến nước, nghĩ đến số phận nông dân mà cùng nhau lên tiếng. Chắc hẳn tiếng nói chung ấy sẽ có nhiều tác dụng. Xin quý vị tạo thành chủ lưu dư luận, thêm sức cho việc đòi công lý của dân oan.
Với những nhà báo tự do:
Rồi đến những nhà báo tự do, những bloggers, chúng ta có nhiều bloggers. Những bài viết của Song Chi, Tạ Phong Tần, Trần Khải Thanh Thủy… là những lời chí thành, thốt tự tâm can… khóc cho nỗi đau của nước, nỗi khốn cùng của dân. Mong sao những nhà báo tự do (chắc đa số là những trí thức trẻ) lên tiếng cho dân oan, lên tiếng đòi đảng Cộng Sản trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Xin quý vị đi vào chủ lưu đòi đất, thêm sức cho dân oan.
Với những chiến sĩ dân chủ:
Sự tàn phá đất nước và con người của đảng Cộng Sản Việt Nam đã đến chỗ cùng và đảng
Cộng Sản đã sử dụng công an, nhà tù và truyền thông để duy trì cái cùng này, nhưng đảng Cộng Sản đã không thể hủy diệt được hồn nước. Vì giữa bạo lực đen tối, chúng ta vẫn thấy bật lên những tia lửa của những chiến sĩ dân chủ, những người lấy thân mạng mình thách đố bạo lực, đòi lại quyền sống tự do và công lý cho đồng bào. Những tia lửa đó là biểu hiện của hồn nước. Vì khi đất nước còn những con dân coi thường cái chết để bật lên những tia lửa chống bạo quyền thì chúng ta còn niềm tin là sẽ tới một lúc, những tia lửa đòi đất, đòi công lý, đòi tự do dân chủ sẽ kết lại để phá vỡ cái chỗ cùng đen tối của chế độ đảng trị.
Kết luận.
Qua những phần trên đây, chúng tôi đã trình bày về sự thành công của nông dân Do Thái và những thảm kịch của nông dân Việt Nam trên nửa thế kỷ qua. Để tổng kết câu chuyện, có thể nhận định là nông dân Do Thái đã đạt được những thành tựu lớn trong việc xây dựng đời sống và cộng đồng nông thôn vì họ có ý chí, niềm tin và chế độ dân chủ. Trong ba yếu tố này, ý chí và niềm tin đã giúp họ đạt được ước nguyện làm người Do Thái tự do trên đất tổ Palestine, còn chế độ dân chủ đã củng cố cho ý chí và niềm tin đó, vì biết rằng họ làm việc và họ sẽ làm chủ những thành quả đạt được trong việc thăng tiến con người về chính trị, kinh tế và văn hóa.
Còn đối với Việt Nam thì người nông dân thiếu cả ba yếu tố đó: Họ không còn ý chí tiến thủ vì bị đảng áp chế và phong tỏa. Họ không có niềm tin, vì đảng sử dụng chính sách gian dối, nên dối trá đã trở thành một phương thế hành sử của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Họ không có dân chủ, vì đảng toàn trị không có chỗ cho tiếng nói của người dân.
Từ đó, nông dân đã bị đảng Cộng Sản làm tình làm tội trong những chính sách vô sản mà kết quả đã được giáo sư Tương Lai, nguyên cố vấn các vấn đề xã hội của cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, trong một cuộc phỏng vấn của BBC Việt ngữ (19/8/08) đã nhận định:
“Nông dân Việt Nam là người chịu trên vai mình gánh nặng nhất của đất nước. Nhưng về sau, bản thân người nông dân lại phải chịu đựng rất nhiều thiệt thòi… Họ cống hiến nhiều nhất. Hy sinh lớn nhất. Hưởng thụ ít nhất. Được giúp kém nhất. Bị đè nén thảm nhất. Bị tước đoạt nặng nhất. Là những người cam chịu lâu dài nhất và là người tha thứ cao cả nhất”.
Nhưng trước những khổ nạn đó thì phải làm gì để cứu nông dân (chớ chẳng lẽ lại bảo họ phải tha thứ mãi!), giáo sư Tương Lai không nói, nên chúng tôi xin nhắc lại giải pháp của nhị vị Luật sư Phạm Duy Nghĩa và Trần Lâm:
- Theo luật sư Phạm Duy Nghĩa thì “Không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất… Hiến pháp 1992 và luật Đất Đai 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của nông dân. Đất đai của toàn dân thì nhà nước trả lại cho người dân cũng là một lẽ đương nhiên”.
- Còn luật sư Trần Lâm thì quả quyết: “Nói đến tam nông, việc đầu tiên là làm luật ruộng đất, cái cốt lõi là trả lại sở hữu cho người dân. Không còn con đường nào khác, dù con đường này làm thương tổn đến sự chuyên chính, sự toàn trị của Đảng, cũng phải làm. Nếu không, nguy hại nó có thể làm chấm dứt sự toàn trị.
Việt Dương