NÓI DỐI NHƯ CUỘI
Thời gian 07/01/2010 19:30  Tác giả Nhật Th&  Duyệt 95  Ngôn ngữ Global
NHẬT THỊNH


Cuội không may bố mẹ chết sớm được chú thím đem về nuôi nấng, dạy dỗ. Ngay từ nhỏ Cuội đã tỏ ra có trí thông minh, hóm hỉnh và có biệt tài nói dối khó ai có thể hơn. Đã nhiều lần Cuội bầy trò lừa dối làm chú thím giận tím ruột tím gan mà không có cớ chi để đánh đuổi Cuội đi. Cuối cùng không thể chịu đựng mãi được, Cuội bị chú bỏ vào rọ tre, đem dìm xuống sông tính cho chết, do can tội lừa dối, vô ơn, bạc nghĩa. Nhưng nhờ có tài nói dối Cuội đã gạt được một gã ngu ngốc chịu chui vào rọ thế mạng cho Cuội mà không ai biết. Thế là Cuội thoát chết, từ đó phạm vi nói dối của Cuội không những vượt khỏi ngưỡng cửa gia đình, mà còn lan xa ra ngoài xã hội.


Với tài nói dối nhanh nhảu Cuội sống rất ung dung, đã vậy có khi Cuội còn biến bọn ham tiền, ưa sang trọng trở thành những tên hề trước mắt mọi người và ngoài xã hội. Đáng tiếc thay là Cuội đã không buông tha, còn lừa dối cả những người nghèo khổ, khố rách áo ôm, những người thân quen, thậm chí đến cả những người trong dòng tộc. Cuội như thế – Hay nói dối và nói dối tài tình. Trong truyện cổ tích Cuội với tài nói dối tinh quái đã đi sâu vào đời sống dân chúng, trở thành thành ngữ “nói dối như cuội” dùng để ám chỉ những người bị cố tật nói dối và lúc nào cũng nói dối được. Điển hình các nhà lãnh đạo, cán bộ lớn nhỏ của cộng sản Việt Nam là chúa nói dối và bọn tay sai nằm vùng, theo đòi học hỏi bọn lãnh chúa hễ phát ngôn là một tấc lên tới trời xanh.

                Cuối tháng 9 năm 2009, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bay từ New York qua Cuba. Tại đây trước một cử tọa chọn lựa, Nguyễn Minh Triết tủm tỉm má lúm đồng tiền, và đôi mắt lấp láy, vung tay vung vít:

“Có người ví von, Việt Nam – Cuba như là trời đất sinh ra. Một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây. Chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức Việt Nam ngủ, Việt Nam gác Cuba nghỉ.”

Nói bừa bãi còn hơn nghệ thuật sân khấu nhiều. Chỉ một câu này thôi thiết nghĩ đủ để đề nghị trao giải Nobel hòa bình cho Việt Nam và Cuba đang thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới hiện nay. So trong lịch sử Nguyễn Minh Triết còn có nhiều câu tuyên bố trở thành tiếu lâm. Sau này lịch sử chắc phải ghi nhận thời nay có một hoàng đế nối dõi triều đại họ Hồ từng lê gót đi khắp thế giới. Lần dự khóa họp của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Nguyễn Minh Triết đã tuyên bố nhiều câu “đầu Ngô mình Sở” làm xào sáo dư luận. Trước Nguyễn Minh Triết chưa ai tuyên bố kỳ quái vậy,  sau Nguyễn Minh Triết không ai dại đi vào vết xe đổ đó. Nguyễn Minh Triết được biết khá nhiều trong cộng đồng người Việt hải ngoại, vì chịu khó xuất ngoại, gặp gỡ nhiều người tỵ nạn hơn các các lãnh tụ khác. Tuy gọi là Việt kiều nhưng họ đã được các sứ quán cộng sản Việt Nam sàng lọc lập trường trước đó, như vậy Nguyễn Minh Triết thuộc hạng người thích bắt tay, thích nói mà không thích nghe. Những lãnh tụ khác như Đỗ Mười, Lê Duẫn, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải…thì ít đi, ít gặp và ít nói như Nguyễn Minh Triết.

Trong “Đại Hội Người Việt Ở Nước Ngoài” diễn ra từ ngày 21 đến 23 tháng 11 năm 2009 ở Hà Nội, trong một buổi nói chuyện trước 900 Việt  kiều, Nguyễn Minh Triết với tư cách Chủ tịch nước đã giải thích về các “tồn đọng lịch sử ” trong chế độ, để gọi là trấn an các Việt kiều khỏi giao động về tình hình tham nhũng trong nước, giọng đặc sệt đồng bằng Nam bộ:

“Chúng ta từ một nước trong chiến tranh, chưa có những kinh nghiệm trong quản lý, và ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam của mình, thì có khi không muốn tham cũng động lòng tham, cái người thủ quỹ cứ giữ tiền khư khư, ở quỹ lúc nào cũng có số dư, cho nên lúc bĩ quá thì em mượn một chút, mượn không thấy ai đòi hết, thì em mượn thêm. Chứ không phải người Việt Nam tham nhũng nhất thế giới, không phải vậy! Cho nên tui đề nghị những ai ở nước ngoài khi nghe những thông tin này, rồi nhìn về Việt Nam cũng đừng có hốt hoảng, cứ nghĩ rằng trong nước mình tiêu cực quá. Mấy hồi mấy ổng oánh giặc sao giỏi thế? Mà bây giờ ổng tiêu cực thế? Đây là quy luật muôn đời. Con người ta trong mỗi người, ai cũng có hỉ, nộ, ái,ố hết chơn. Chúng ta là con một nhà, là con Lạc cháu Hồng, cùng một bọc trứng sinh ra, trên thế giới này ít nơi nào có cái đó lắm! ”

Thật hết chỗ phê phán. Chắc đến nước phải trao giải Nobel kinh tế cho Nguyễn Minh Triết về lối giải thích này mới được: Quỹ dư nên cán bộ lân la mượn một chút, mượn không ai đòi thì mượn thêm…chứ không phải tham nhũng nhất thế giới. Câu định nghĩa đó có thể giao cho cả nước học hỏi và cho in thành biểu ngữ treo khắp nước dọa bọn tham nhũng rằng sẽ cho “quỹ hết dư ” thì cán bộ lớn nhỏ không “mượn một chút ” nổi.

                Ngày 22 tháng 11 năm 2009 Nguyễn Minh Triết sau khi dự hội nghị Liên Hiệp Quốc về nước đã dông dài chuyện ngoại giao với các cán bộ cao cấp tại Hà Nội, trong đó cho hay khi qua Tân Tây Lan (New Zealand) nghe nữ Thủ tướng nói nội các của Tây Tây Lan là “thế hệ Việt Nam” có ý ám chỉ thế hệ của những người trưởng thành trong không khí phản chiến đối với cuộc chiến Việt Nam năm nào; gặp Thủ tướng Na Uy nghe kể hồi nhỏ quyên góp tiền giúp Việt Nam (có thể hiểu là giúp chế độ cộng sản miền Bắc, không phải chế độ dân chủ miền Nam); gặp Thủ tướng Áo, Tổng thống Hy Lạp thì nghe nói các chuyện khác. Nguyễn Minh Triết nói như thế, “mình cũng nói năng đúng mức đàng hoàng ngang hàng với người ta”. Chuyện kể không muốn nói là hoang đường của Nguyễn Minh Triết không thể kiểm chứng bằng các bản tin quốc tế AP, AFP hay Reuters…Nhưng sự tuyệt vời của sân khấu hài là khi Nguyễn Minh Triết kể chuyện gặp Tổng thống da màu Mỹ Barack Hussein Obama, nói qua diễn đàn khoáng đại Liên Hiệp Quốc: “ Trong Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vừa rồi tôi có phê phán vụ Mỹ cấm vận Cuba, tôi có koan nghênh vụ Obama đóng cửa nhà tù Guatanamo, tôi chúc ông Obama nỗ lực bằng được việc đóng cửa nhà tù đó, nhưng tôi nói là việc đóng cửa này khó lắm . Tôi vừa động viên ông Obama, vừa phân hóa nội bộ họ.” Tuyệt vời (!?) Nguyễn Minh Triết chỉ tuyên bố độc một câu mà phân hóa được nội bộ chính phủ Mỹ (!?) Đến nước này chắc Hồ Chí Minh phải đầu hàng Nguyễn Minh Triết, thật “ hậu sinh khả úy ”.

                Chưa hết, chuyện mới xảy ra tại một hội nghị ở Tân Gia Ba (Singapore), Nguyễn Minh Triết nói cộng sản Việt Nam không phá giá đồng bạc, nhưng chỉ vài ngày sau Ngân Hàng Trung Ương Nhà Nước Việt Nam chính thức ra lệnh phá giá đồng bạc tới 5% viện lý do để giảm áp lực chợ đen và tăng khả năng xuất cãng nhiều hàng hóa. Trong khi đó ngày 17 tháng 11 năm 2009 tuần báo Thanh Niên dưới nhan đề một bài báo: “Chủ tịch nước đối thoại với Singapore: Việt Nam không phá giá tiền đồng.” Ngay ở dòng nhập đề tờ báo đã viết: “ Hôm qua tại buổi đối thoại với doanh nghiệp ở Singapore Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Bộ trưởng Tài Chánh Vũ Văn Ninh khẳng định kinh tế Việt Nam đang dần ổn định và không có chuyện phá giá đồng bạc.” Thật “ ông nói gà bà nói vịt ”. Ngày 27  tháng 11 năm 2009 trên mạng lưới (web) của Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) bản tin có nhan đề “Việt Nam giảm giá tiền đồng – tín hiệu cảnh báo cho đối thủ xuất khẩu” đã đề cập đến tình hình phá giá đồng bạc của Việt Nam, lập luận: “ Việt Nam vừa giảm 5% giá trị tiền đồng. Quyết định giảm giá tiền tệ của Việt Nam là tín hiệu cảnh báo đối với các đối thủ xuất khẩu tại Châu Á giữa lúc các nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khu vực đang khó khăn cạnh tranh với lượng đơn đặt hàng  từ các nước Châu Âu và Mỹ sút giảm do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu.” Cùng ngày tờ The Wall Street nhận xét cho rằng: “Sự giảm 5% giá trị tiền đồng khiến giá thành sản phẩm sản xuất nội địa rẻ hơn các mặt hàng của các nước khu vực, giúp cải thiện vị trí cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thương trường quốc tế.”

                Dư luận cho rằng Ngân Hàng Trung Ương Nhà Nước Việt Nam đã cưỡng lời Nguyễn Minh Triết, nêu nghi vấn về nguyên nhân xảy ra tình trạng đó, vậy mà các kiều bào về nước tham dự “ Đại hội Việt kiều ” lại lắng nghe tưởng như thiệt? Đó chẳng qua nằm trong chính sách chiêu dụ người Việt nước ngoài của cộng sản Việt Nam. Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, nêu rõ đường hướng của cộng sản Việt Nam: “Thành lập các Hội đoàn người Việt ở tất cả những nơi có người Việt sinh sống tiến tới xóa bỏ tình trạng “vùng trống vùng trắng” về tổ chức, hỗ trợ để xây dựng cộng đồng đoàn kết vửng mạnh, thành đạt hội nhập, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, đồng thời hướng về quê hương đất nước. Tích cực đấu tranh phân hóa, cô lập, đảy lùi, tiến tới xóa bỏ về cơ bản sự chống đối chính trị của cácphần tử phản động, cực đoan trong cộng đồng; thực hiện hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc.” Thành thử cần đề cao cảnh giác đối với những tổ chức hình thành sau này tại hải ngoại, bởi thiếu gì tổ chức do một dúm người tạo dựng nên, mà gan cóc tía dám tiếm danh cộng đồng ma, đại diện bao trùm mấy chục ngàn người, nói đi nói lại chẳng qua bởi nhiều mục đích khuất tất. Chính đây là lực cản trong công cuộc chống đối cộng sản Việt Nam, có khi họ mượn truyền thông báo chí để xuyên tạc sự thật, tránh tham gia hay ơ hờ “trả lễ chú Mường ” trong các cuộc biểu tình chống đối cộng sản dưới bất cứ hình thức nào, độc nhất vô nhị xử dụng có lá cờ Hoa Kỳ để giả bộ rằng có nhập cuộc.

                Xem thế đủ thấy những diễn viên chính trị hàng đầu của chế độ độc tài toàn trị đã hành động không khác nào các diễn viên hề và các lái buôn bán dầu cù là ở đầu đường xó chợ. Họ làm một cách tự nhiên, bài bản và còn hãnh diện nữa. Chuyện tưởng như đùa đó mà lại là sự thực trong sinh hoạt chính trị  của chế độ toàn trị nhiều thập niên qua. Những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước – từ các chuyên viên, trí thức, nhà văn, ký giả, sinh viên và những đảng viên cộng sản còn biết quý sự tự trọng – đều ngậm ngùi thương cho số phận quần chúng và lo cho tương lai đất nước, hổ thẹn vì một nước có trên bốn nghìn năm lịch sử mà có những nhà lãnh đạo quá tồi tệ! Mọi người không làm hết trách nhiệm, mà không thể “bằng chân như vại ” đứng nhìn những kẻ bất tài vô đức, mất tư cách, ngạo mạn, tàn bạo cưỡi đầu cưỡi cổ dân chúng. Đó là tâm nguyện của những nhà đấu tranh  cho dân chủ mà hiện nay nhiều người đang sống đầy ải trong những trại biệt giam, và những người yêu nước thầm lặng, cộng sản Việt Nam biết thế và sợ thế, nên đã một mặt bung ra những màn lưới công an, mật vụ bủa vây trong dân chúng để dò xét, đàn áp họ, và một mặt mua chuộc người Việt nước ngoài mà cộng sản Việt Nam rất dè dặt cái căn cước tỵ nạn của họ mang trong người, ngoại trừ những thành phần hai mang “đón gió trở cờ ”. Bởi vậy cộng sản Việt Nam đã ban hành ngày 25 tháng 6 năm 2009 bản “Đề cương tuyên truyền” hay “Chỉ thị 34-CT-TW” của Ban Bí Thư để tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa”.

                Ngay từ năm 1945 trong bối cảnh của những năm nước mất nhà tan, khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, thêm thân phận lưu vong, nên cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn được các nhà cách mạng coi như mảnh đất màu mỡ để truyền bá những tư tưởng yêu nước và tạo dựng cách mạng. Thực tiễn lịch sử cho thấy công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài đã gắn liền với lịch sử cách mạng, cộng sản Việt Nam đã tìm cách len lỏi chui vào để thao túng. Năm 1930, Đảng cộng sản Đông Dương thành hình tại những nơi có đông người Việt Nam sinh sống như Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Pháp trở thành địa bàn hoạt động ở ngoài nước. Ngày 23 tháng 11 năm 1959 Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Nghị định số 416 - TTg thành lập Ban Việt Kiều Trung Ương, bổ nhiệm Nguyễn Khang, Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng làm Trưởng ban. Ngày 10 tháng 1 năm 1960 chuyến tầu đầu tiên đưa những người Việt sống xa xứ sở nhiều năm qua hồi hương.

                Trong những năm 1959-1974 có 4 vạn kiều bào sinh sống tại Thái Lan và Tân Đảo trở về nước. Đáng kể, thời gian diễn tiến Hội Nghị Hòa Đàm Paris, từ tháng 5 năm 1968 đến tháng 1 năm 1973 ,cộng sản Việt Nam bởi thiếu mọi phương tiện để theo đuổi các cuộc đàm phán kéo dai dẳng, đã cố vận động một số kiều bào “úp mặt trở cờ ” phục vụ, giúp đỡ mọi mặt hai phái đoàn công sản Bắc Việt và vệ tinh là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Ngoài ra kiều bào tại Thái Lan còn đóng góp trong các phong trào yểm trợ cho cộng sản Việt Nam như “Nắm gạo nuôi quân ”, “Nở hoa diệt My õ”, “Nuôi quân diệt Mỹ” và “Dũng sĩ Khe Sanh”. Quyết định số 220 - TTg ngày 18 tháng 10 năm 1973 của Thủ tướng Chính phủ quy định Ban Việt Kiều Trung Ương là một hội đồng iên ngành trực thuộc hội dồng chính phủ có nhiệm vụ giúp hội đồng nghiên cứu những chủ trương, chính sách đối với Việt kiều.

                Trong những năm 1975-1992 tinh thần chống đối cộng sản Việt Nam của người Việt nước ngoài mạnh mẽ của những cơn sóng thần, cộng sản Việt Nam kinh hoàng phong trào vượt biển đi tìm tự do, trong khi đó tình hình kinh tế xã hội quốc nội quá bi thảm, Thứ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Nam Ởû Nước Ngoài, hằn học ghi  nhận: “Chính sách thù địch của các nước đế quốc, sự chống phá điên cuồng của bọn phản động người Việt lưu vong, cộng với khó khăn kéo dài về kinh tế, xã hội của đất nước, cũng như việc đông đảo người ra đi bằng thuyền đã tác động không nhỏ tới tâm tư, tình cảm của người Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân của họ ở trong nước  khiến các phong trào Việt kiều yêu nước phải đối mặt với không ít khó khăn” Những năm 1975-1978 chiến tranh chấm dứt, Ban Việt Kiều Trung Ương vội nắm lấy cơ hội mới này đã hình thành 10 Hội Người Việt tại các nước Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Đức, Ý, Nhật…Đến cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 đất nước gặp nhiều khó khăn, và kiều bào có biến động tâm tư, Ban Việt Kiều Trung Ương phải đối phó với nhiều trở ngại, nhưng vẫn hỗ trợ tích cực các phong trao Việt Kiều Yêu Nước, chính bởi vậy Ban Bí Thư đã ra Chỉ thị số 09-CT-TW ngày 4 tháng 10 năm 1982 định hướng cho công tác về người Việt Nam ở nước ngoài hầu cứu vãn tình thế nguy ngập. Trước đó Chính Phủ ban hành Nghị định 209-CP ngày 5 tháng 6 năm 1979 quy định Ban Việt Kiều Trung Ương là cơ quan chuyên trách và tổng hợp của hội đồng chính phủ nhằm chỉ đạo, quản lý các mặt cộâng tác đối với người Việt Nam cư trú ở nước ngoài. Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức cho nhiều cán bộ và kiều bào về nước tham dự các đợt sinh hoạt chính trị, gặp gỡ lãnh đạo Đảng và Nhà Nước, đồng thời mua chuộc thân nhân các kiều bào ở trong nước, bằng cách không hạn chế số lần gửi hàng và trị giá tiền của Việt kiều gửi về giúp thân nhân. Điều này khiến lượng kiều hối tăng mạnh, mỗi năm đạt gần một tỷ mỹ kim. Ban Việt Kiều Trung Ương còn gửi ra hải ngoại nhiều sách báo để phục vụ công tác tuyên truyền, đầu độc tinh thần con người.

                Bước vào cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 do ảnh hưởng của các thay đổi thể chế chính trị tại những nước cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô, chủ nghĩa Karl Marx bị tiêu diệt, nội bộ một số phong trào Việt kiều phát hiện những quan điểm đi trái ngược đường lối của cộng sản Việt Nam. Trước biến động đó Ban Việt Kiều Trung Ương vội vận động cán bộ nòng cốt để giữ vững phong trào, tuy nhiên một số nơi đã xảy ra tình trạng Hội Người Việt tự giải tán. Do đó ngày 28 tháng 7 năm 1983 Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành Nghị định 84-HĐBT về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban Việt Kiều Trung Ương quy định nhiệm vụ tiếp tay hội đồng bộ trưởng chỉ đạo quản lý công tác Việt kiều. Tháng 2 năm 1993 Hội nghị Xuân Quý Dậu có sự tham dự của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà Nước nhóm họp tại Hà Nội lần đầu để đón nghe ý kiến của kiều bào hải ngoại. Tháng 4 năm 1993 Ban Việt Kiều Trung Ương đệ trình Ban Bí Thư và Thủ tướng “Đề án công tác Việt kiều trong thời kỳ đỗi mới ” đề xuất và dự thảo văn kiện. Ngày 29 tháng 11 năm 1993 Bộ Chính Trị ban hành Nghị quyết 08-NQ-TW về chính sách, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Tháng 5.1994 Ban Bí Thư ban hành Chỉ thị 55-CT-TW chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết này, nhận thức quan điểm: “Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.” Vì vậy cho đến nay cộng sản Việt Nam luôn ngoan cố không chịu thừa nhận sự nhập tịch của người Việt nước ngoài tại các nước họ định cư, và quy định nhiều điều kiện rắc rối để ngăn chặn những ai muốn dứt bỏ gốc rễ cu, để không ai hoàn tất được hồ sơ. Đó chẳng qua cộng sản Việt Nam sợ hãi mất nguồn lợi khai thác về mọi mặt. Nhưng đó chỉ là lý thuyết suông, thực tế họ đã cắt đứt từ lâu mọi liên hệ với chế độ cộng sản độc tài, vô thần, phi nhân bản…ngoại trừ một thiểu số thành phần “đón gió trở cờ không đáng kể ” Kịp khi xảy ra những biến chuyển của tình hình kinh tế – xã hội trong nước, Nghị định số 74-CP ban hành ngày 30 tháng 7 năm 1994 của chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, thay thế Ban Việt Kiều Trung Ương. Theo đó Ủy Ban trực thuộc chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà Nước và chỉ đạo công tác về người Việt Nam ở nước ngoài. Và để tăng cường điều kiện thuận lợi cho những hoạt động của Ủy Ban, Nghị định 77-CP ban hành ngày 6 tháng 11 năm 1995 của chính phủ  đặt Ủy Ban trực thuộc Bộ Ngoại Giao. Tiếp đó Nghị định 37-CP ban hành ngày 26 tháng 4 năm 1997 của chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, nâng lên hàng Tổng Cục trực thuộc Bộ Ngoại Giao thi hành công tác về người Việt Nam ở nước ngoài.

                Đến năm 1996 sau khi đặt dưới sự quản lý của Bộ Ngoại Giao, Ủy Ban kết nối công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài với công tác đối ngoại, vận dụng những thành tựu đối ngoại để tác động vào cộng đồng. Tuy nhiên cộng sản đã gặp sự chống đối mãnh liệt của người Việt tỵ nạn, lại không được hậu thuẫn của dư luận thế giới, đã vậy còn bị phong trào đấu tranh của quần chúng trong nước đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền nổi lên như nước vỡ bờ. Trước tình hình khó khăn đó, cộng sản Việt Nam còn bị Trung Cộng phong tỏa gây áp lực, kết quả cộng sản Việt Nam đã đụng hết thất bại nọ đến đổ vỡ kia. Cuối cùng 8 văn bản pháp lý dành cho kiều bào về các lãnh vực hồi hương, xuất - nhập cảnh, lưu trú, áp dụng chế độ một mức giá, chuyển tiền về nước, mua nhà, khen thưởng…được soạn thảo nhưng đã không được thi hành đứng đắn, nói một đằng làm một nẻo.  Nhiều công tác được Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhìệm Ủy Ban Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, “đao to búa lớn” đề cao: “phát huy hiệu quả to lớn đem lại những lợi ích thiết thực cho kiều bào, qua đó ngày càng khẳng định sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà Nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, tao được nhận thức đứng đắn, tình cảm gắn bó và sự đóng góp tích cực của bà con đối với công cuộc xây dựng đất nước.” Sự thật những thành quả cộng sản Việt Nam cho rằng có lợi ích thiết thực cho người Việt nước ngoài đã tác dụng trái ngược, những việc làm đó chỉ có tính cách phá hoại, hơn nữa cộng sản Việt Nam đã dung dưỡng cho bọn tay sai “tác oai tác quái” gây ung nhọt lở loét cho xã hội. Chẳng hạn Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Ở Nước Ngoài, đã dựng đứng chuyện mà ngậm máu phun người: “Trực tiếp góp phần làm thất bại, tan rã những âm mưu chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực phản động người Việt lưu vong, tăng cường sự gắn bó giữa kiều bào và quê hương.” Người ta không chấp nhận chế độ cộng sản, bỏ nước đi tỵ nạn, lập trường rõ ràng như ba ngày, vậy mà cộng sản Việt Nam tung cán bộ lớn nhỏ sang đây lũng đoạn, khuấy phá, có sự tiếp tay của trên 13,000 du sinh, họ tự vệ chống đối thì bị cộng sản Việt Nam “mồm loa mép giải” cho rằng “thế lực người Việt lưu vong” và “âm mưu chống phá”, lập luận xem ra thật hồ đồ, ấu trĩ. Và đây những hoạt động của cộng sản Việt Nam dành cho người Việt nước ngoài mục đích để khai thác mọi mặt thông qua lời Thứ trưởng Ngoại Giao, Chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, Nguyễn Thanh Sơn “Tổ chức cho các đoàn kiều bào tiêu biểu về dự Quốc Khánh 2.9, tham gia các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa” nhằm tưởng nhớ và tri ân những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc tại Côn Đào, Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An.” Sự thật cộng sản Việt Nam đã tìm mọi cách để chiêu dụ người Việt nước ngoài trở về hầu đầu độc, sai khiến làm tôi mọi. Lối dụ dỗ xảo quyệt của cộng sản Việt Nam khiến rắn trong hang phải trườn mình bò ra chui vào rọ mà chờ được mổ thịt. Tại “Đại Hội Người Việt Ở Nước Ngoài ” hay “Đại Hội Việt Kiều” diễn ra từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 11 năm 2009 không thấy cộng sản có một biểu hiện nào tỏ ra coi trọng người Việt nước ngoài, đó là thành phần đã được cộng sản Việt Nam sàng lọc. Nếu biết trọng người như các sách kinh điển của cổ nhân về lối ứng xử giữa con người với nhau tất nhiên cộng sản Việt Nam đã biết lắng nghe mọi ý kiến xây dựng thẳng thắn, đối thoại giải tỏa những sai lầm, những băn khoăn vướng mắc của người Việt nước ngoài trên tinh thần quý trọng, tin cậy lẫn nhau. Chứ không có chuyện đọc diễn văn tràng giang đại hải kiểu đại ngôn, rỗng tuếch, kể lể những điều hay ho tốt đẹp xuất phát từ trong tưởng tượng, tâng bốc nhau kiểu mặc áo thụng vái nhau, cụng ly, xem nhảy múa, nghe ca hát.

Cuộc hội nghị thiếu thực chất,
trước sau chỉ là một chế độ độc quyền đảng trị, chứng nào tật đó, khinh thị con người, khinh thị sự thật và lẽ phải, chỉ mong huy động tiền bạc của kiều bào, cuộc họp chỉ phí công sức, thời gian và tiền bạc. Cộng sản Việt Nam có những biểu hiệu cao ngạo của kẻ cầm quyền, không tôn trọng nhân quyền, không tôn trọng quyền tự do, dân chủ của người Việt ngoài nước, bắt mọi người phải thần thánh hóa, lùa họ như lùa đàn vịt dự lễ đặt vòng hoa tại Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và xếp hàng vào lăng viếng Hồ Chí Minh do Phó Chủ nhiệm Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Ở Nước Ngoài, Trần Đức Mậu, dẫn đầu, nghi thức này làm người tham dự cảm thấy bị xúc phạm nhiều. Chưa hẳn “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” và Hồ Chí Minh đâu phải thần tượng để cộng sản Việt Nam bắt ép mọi người tôn thờ. Chưa hết, ngày thứ ba của hội nghị, ở cuối lễ bế mạc là lễ trao tặng Bằng Khen của Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao do Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quồc Việt Nam – vệ tinh của Đảng cộng sản – Huỳnh Đảm, trao tặng và trao Kỷ Niệm Chương của Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài dành cho 21 tập thể và những kiều bào gọi là có công trạng vận động xây dựng cộng đồng. Lễ chào cờ, bài “Tiến Quân Ca” của Văn Cao sặc mùi máu lửa rền rền trong hội trường, khi chấm dứt mấy chục phụ nữ đại biểu từ Pháp đã “vô liêm sỉ” chạy ùa lên sân khấu vỗ tay ca bài “Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Trong khi đó có những Việt kiều đại diện từ Mỹ về vỗ tay kêu gào “Việt Nam - Hồ Chí Minh”. Thật tráo trở lòng dạ con người phản trắc, Tháng Tư Đen 1975 thì chen lấn leo lên phi cơ của Mỹ di tản cho nhanh, nay “đón gió trở cờ” thật lẹ. Có diễn ra những sự kiện như thế mới đo lường được lòng dạ con người, phải có chiếc kính chiếu yêu mới khám phá thấy sự thật.

Điển hình mấy đối tượng được cộng sản Việt Nam mê hoặc, cho ăn cháo lú, đến u mê ám chướng, ca tụng cộng sản Việt Nam hết lời, vậy mà không dám về nước sinh sống, chỉ quen khoác lác. Tại Mỹ có Lê Văn Ninh, tâm sự năm 1945 sống tại phố Cửa Bắc, Hà Nội, khi bấy giờ mới 7 tuổi, được thân sinh đưa đến trường Bảo Hộ (=École du Protectorat tức trường Bưởi và Chu Văn An sau này, nằm ven theo Hồ Tây) để nghe Hồ Chí Minh nói chuyện. Sau đó Lê Văn Ninh sơ tán về quê, qua bất cứ ngôi làng nào đều thấy treo ảnh Hồ Chí Minh thấy như đang dõi theo sau lưng. Tháng 8 năm 1954 Lê Văn Ninh di cư vào Sài Gòn, tháng 4.1975 di tản qia Mỹ, mãi đến nay lần thứ nhất trở về nước tham dự Hội Nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngoài Toàn Thế Giới Lần Thứ Nhất, và thăm lại Hà Nội sau mấy chục năm xa cách, hơn nữa được vào thăm Lăng Hồ Chí Minh. Lê Văn Ninh tiết lộ tại Mỹ đã đọc nhiều tài liệu về Hồ Chí Minh, coi như một lãnh tụ đáng kính phục và tỏ ra khâm phục đời sống giản dị của Hồ Chí Minh, 64 năm tình cảm dành cho Hồ Chí Minh vẫn không thay đổi.

Phạm Thị Nga từ Nga về tỏ ra xúc xúc động và bồi hồi khi vào viếng Lăng Hồ Chí Minh, cho biết từ hồi nhỏ đã tâm nguyện không ai vĩ đại hơn Hồ Chí Minh, tuy nhiên không thấy đương sự phân tích Hồ Chíù Minh vĩ đại ở mặt nào. Nay đương sự thường kể cho con cái nghe về Hồ Chí Minh mà không biết có đề cập đến những mối tình đi ngang về tắt của Hồ Chí Minh không, liệu con rơi con vãi ra sao. Đã vậy còn dạy con ca những bài hát về Bác Hồ.

Tại Mỹ còn có Đinh Viết Tứ, tốt nghiệp trường Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1965, trường Đại học Pháp lý Hà Nội năm 1990 khi đó đã 48 tuổi. Năm 1992 sang Mỹ, năm 1996 đuều khiển chương trình phát thanh “Tiếng Vọng Quê Hương”. Năm 1999 đổi tên thành “Việt Nam Quê Hương”. Đến năm 2004 cùng Phùng Tuệ Châu  chủ trương “Tiếng Quê Hương Radio”. Đương sự cho hay ngày 3 tháng 9 năm 1969 khi bấy giờ còn sống ở Sài Gòn khi nghe tin Hồ Chí Minh chết đã bắt chước tên bồi bút Tố Hữu làm bài thơ “Nhớ Bác” ra đời trong niềm thương nhớ khôn nguôi, đây những câu kết:

Thuở nhỏ con hằng nuôi ước mơ

Đến khi khôn lớn thấy Bác Hồ

Từ nay mộng ấy không thành được

Nhớ Bác con đành viết trong thơ.


Đương sự mến mộ Hồ Chí Minh từ hồi nhỏ, rất thích được nghe những bài hát về Bác Hồ. Đặc biệt trong thời gian đương sự sinh sống ở làng Trì, xã Tiên Xá, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam đã vui sướng được trao tặng một bức tranh in hình Hồ Chí Minh ngồi bên hai thiếu nhi, đã nâng như  nâng trứng hứng như hứng hoa. Đương sự tỏ ra kính trọng tinh thần nhân đạo, những việc làm phát xuất từ trái tim, từ cuộc sống giản dị, thanh đạm vả sự chân thật của Hồ Chí Minh.

Sự thật, Hồ Chí Minh chết ngày 2 tháng 9 năm 1969 nhằm ngày Quốc Khánh, nên cộng sản Việt Nam buộc giấu diếm, đổi ngày chết 3 tháng 9. Tương tự trường hợp Thủ tướng Phạm Văn Đồng chết ngày 29 tháng 4, Bộ Chính Trị cố dùng mọi phương tiện y khoa để kéo dài sự hấp hối cho qua khỏi cái ngày gọi là “ăn mừng chiến thắng” 30 tháng 4, nhưng không được. Tội ác của Hồ Chí Minh điển hình trong cuộc “cải cách ruộng đất” cuối thập niên 40, sau cuộc Cách mạng tháng 8 năm 1945 Hồ Chí Minh phát động chiến dịch giết nửa triệu người. Dã man nhất là vụ Hồ Chí Minh sát hại ân nhân của Đảng, bà Cát Hanh Long năm 1952. Bắt chước Mao Trạch Đông giết chết 65 triệu người trong cuộc cách mạng văn hóa, phá hủy nhiều kho tàng văn hóa của Trung Quốc cổ, Hồ Chí Minh chỉ một năm sau cuộc cách mạng văn hóa đã tiến hành cuộc tàn sát Mậu Thân (1968) tàn sát 14,300 nạn nhân vô tội gồm các tu sĩ, công chức, nhà giáo, sinh viên, học sinh, dân chúng ở miền Nam, chưa kể 100,000 bộ đội miền Bắc bị hy sinh vào cuộc tấn công  man rợ nhất lịch sử.

                Thật ra những nhận định của các thành phần này còn nhiều phiến diện, xét đoán sự việc một cách hời hợt, nông cạn, nói thì đao to búa lớn mà thục chất không có gì. Trái lại luật sư Nguyễn Hữu Liêm về từ Mỹ, tình cảm tỏ ra sâu đậm, kể từ khi bước xuống phi trường Nội Bài, biểu hiện nhiều vấn đề mà những ai chống đối cộng sản, bài xích chủ thuyết Karl Marx, đều không tránh khỏi suy nghĩ: “ Như rứa mà qua ba mươi lăm năm, ngày tôi rời Việt Nam. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, đeo đu đưa trên chân đáp của chiếc trực thăng cuối cùng rời phi trường Cần Thơ, trên vai vẫn đeo súng, và vai kia mang túi xách, tôi thoát đi trong tiếng la hét hoảng sợ và cuồng nộ, bắn giết của đoàn quân đang tan vỡ. Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam. Lần nào bước vào phi trường Tân Sơn Nhất, tôi luôn mang nỗi sợ hãi thầm kín. Không biết là lần này mình có bị trục xuất hay không? Những ngày còn ở trong nước thì vẫn nghĩ đến đến chuyện công an “mời lên làm việc”. Tôi đã như một đứa con ghẻ trên chính quê hương mình. Nhưng lần này, tôi về lại quê nhà với một tâm trạng khác. Tôi được chính thức mời trở lại Việt Nam. Tôi phân vân suốt cả tháng trời là có nên đi dự “Đại Hội Người Việt  Ở Nước Ngoài” hay “Đại Hội Việt Kiều”. Với tư cách Chủ tịch của Hiệp Hội Doanh Nhân Việt Mỹ, tôi có nhiều lý do để tham dự. Cùng về với tôi trên các đường bay khác là một phái đoàn bao gồm những thương gia và chuyên gia. Trên chuyến bay từ San Francisco về đến phi trường Nội Bài ngày thứ sáu 20 tháng 11 năm 2009, tôi chỉ đi một mình. Tôi để ý đến các cô tiếp viên Việt Nam cố gắng cười trên môi trong nỗi bực mình thể hiện qua lông mày vì các yêu cầu của khách hàng đi từ Đài Loan. Vừa bước tới quầy thủ tục nhập cảnh ở Nội Bài, tôi đã được hướng dẫn vào lối đi dành cho đại biểu kiều bào về tham dự Đại hội.Một sĩ quan cấp tá đón tiếp tôi thân mật, tươi vui. Viên sĩ quan đóng dấu ngay lập tức vào tờ khai nhập cảnh và chào tôi nghiêm chỉnh với nụ cười. Tôi được hướng dẫn bởi hai nhân viên khác đến một quầy tiếp đón. Xong tôi ra xe đang chờ về khách sạn cùng một số đại biểu từ Âu Châu. Đến khách sạn chúng tôi cũng được chào đón thân mật. Ở đâu, ở trên khuôn mặt nào, tôi chỉ thấy những nụ cười, những lời chào hỏi trân trọng. Phòng trọ của tôi ở khách sạn Thắng Lợi, xây dựng bởi kỹ sư Cuba, nằm ngay trên mặt nước Hồ Tây. Tôi bước ra balcony, nhìn ra xa bên kia bờ là đường Thanh Niên và phố Thụy Khuê. Tôi chợt nhận ra một Hà Nội mà chưa bao giờ mình biết đến dù rằng tôi đã đến xứ Thăng Long này biết bao lần.”.

                Những đại biểu người Việt nước ngoài do cộng sản mời về nước tham dự “ Đại Hội Việt Kiều”  đều thuộc thành phần đã được tuyển lựa kỹ lưỡng mà ít nhiều có sự tin tưởng, về nước được cộng sản đầu độc thêm. Chính vì thế đã có trường hợp như Nguyễn Quốc Hưng có tên tuổi tại Úc Châu đã hai lần bị từ chối không cho nhập cảnh dù được cấp thị thực, đó là sai lầm tệ hại không thể tha thứ. Trước Đại Hội này cộng sản Việt Nam đã tổ chức Trại Hè Việt Nam 2009 hội thảo xoay quanh chủ điểm “Theo dấu chân Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc – Danh nhân văn hóa thế giới”, và Đại Hội Doanh Nhân Việt Nam vào hai ngày 9 và 10 tháng 8 năm 2009 nhằm phát tiển đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. Thành ra trong tình tế hiện tại  đòi hỏi có một đầu óc thật lạnh, tỉnh táo để thẳng thắn đối phó, tiêu diệt bất cứ âm mưu nào của cộng sản dưới mọi hình thức trên cương vị của người tỵ nạn cộng sản.

NHẬT THỊNH.      

Chưa có lời bình nào.
Liên Minh Dân Tộc VN

Liên Minh Dân Tộc Việt Nam
Ban Điều Hành
Chủ Nhiệm: Huỳnh Trung Đạo

Chủ Bút: Chu Tấn

Thư Ký Tòa Soạn:
Nguyễn Nam Hiệp

Ban Nghiên Cứu (Think Tank):
Nguyễn Thanh Nam,
Châu Văn Nghiêm,
Chu Tấn,
Tiêu Phi Hùng,
Ts. Nguyễn Hồng Dũng,
Ts. Ngọc Thanh,
Hoàng Sơn,
Ts. Nguyễn Anh Tuấn,
Đt. Nguyễn Văn Nam,
Trần Khai Nguyên,
Trần Anh Vinh.
Phạm Trần Anh.
Nguyễn Tấn Lạc.
Việt Dương.
Phan Kỳ Nhơn.
Lê Cước.
Trần Nhân Thập.
Hoàng Dần.
Trần Nhu.
Nhật Thịnh.
Vĩnh Liêm
Nguyễn Việt Quán.
Trường Sa.

Ban Văn:
Trần Nhu,
Nhật Thịnh,
Thanh Thương Hoàng,
Vĩnh Liêm.

Ban Thơ:
Chu Vương Miện,
Vĩnh Liêm,
Mạc Chiến,
Phạm Kỳ Phong,
Văn Quảng.

Ban Dịch Thuật:
Châu Nguyễn.

Ban Phóng Sự:
Nguyễn Hồng Lạc,
Quốc Việt,
Giang Long Huỳnh,
Việt Đạo Dân Tộc,
Bạch Mai,
Huỳnh Thương Chi.

Ban Kỹ Thuật:
Quốc Việt,
Nguyễn Hồng Lạc.

Với sự đóng góp tác phẩm của quý tác giả:
T.S Nguyễn Anh Tuấn,
Nguyễn Phúc Bảo Ân,
Âu DươngThệ,
Trần Phong Vũ,
KS. Trần Thanh Vân,
Kim Anh,
Duy Ái,
Lý Đại Nguyên,
Uyên Thao,
Bùi Duy Thuyết,
Ls. Nguyễn Hữu Thống,
Gs. Lê Xuân Khoa,
G.S T.S Nguyễn văn Canh,
Đỗ Thái Nhiên,
Gs. Nguyễn Chính Kết,
Phạm Trần Anh,
Nguyễn Tấn Lạc,
Cao Huy Thuần,
Lm. Lê Trọng Cung,
Vân Anh,
Thanh Phương,
Bùi Tín,
Nguyễn Thanh Nam,
Lý Trí Việt,
Trần Nhân Thập,
Trần Nhân Hạc,
Kami,
Nhà Văn Nguyễn Ngọc,
Nguyễn Văn Út,
G.S.Trần Quốc Dũng,
Nhà Văn Thanh Thương Hoàng,
Nhà văn Việt Dương,
Nguyễn Quang Duy,
Nguyễn Văn Hiệp,
NLM. Nguyễn Kim Điền,
Ls. Nam Thị Hồng Vân
Cụ Lê Quang Liêm,
Nguyễn Quốc Chánh,
Văn Quảng,
L.T. Đông Phương,
Chu Vương Miện,
Phạm Tín An Ninh,
Huyền Chương Quý,
Tiểu Tử,
Song Thao,
Vĩnh Liêm,
Lê Ngọc Trác,
Nguyễn Việt Nữ,
Vũ Cao Đàm,
Đặng Tấn Hậu,
Nguyễn Gia Kiểng,
Nguyễn Quang Duy,
Nguỵ Kinh Sinh,
Ts. Nguyễn Đình Thắng,
Nguyễn Đạt Thịnh,
Trần Khải,
Đinh Từ Thức,
Alexandre Solzenitsyn,
Nguyễn Khánh Vũ,
Quánh Tường Uy,
HT. Thích Viên Định,
Ls. Đoàn Thanh Liêm,
Nguyễn Thượng Long,
Phạm Toàn,
Gs. Nguyễn Lân Dũng,
Dương Danh Dy,
Vũ Trọng Hiền,
Trọng Đạt,
Lê Diễn Đức,
Sử Gia Trần Gia Phụng,
Lê Nam Phương,
Nguyễn Kiên Trung,
Thiên Thu,
Ký Giả lão thành Phạm Trần,
Nguyên Trần,
Nhà văn Tư Trì,
Nhạc Sĩ Lê Quốc Tấn,
Nguyễn Trung,
Nguyễn Đạt Thịnh,
Trần Khải,
Ngô Văn Tuấn,
Lê Minh Thịnh,
Nhà văn Trần Thị Diệu Tâm,
Nguyễn Hữu Nhật,
Nhạc Sĩ Tô Hải,
Nguyễn Thanh Giang,
Bùi Tín,
M.S Nguyễn Trung Tôn,
T.S.Trần TrườngThủy,
Trần MộngTú,
Nguyễn Thị Hoài Trang,
Nguyễn Thành Long,
T.T Thích Thiện Minh,
Mai Thái Lĩnh,
Như Hà,
Tuyết Mai,
Đình Ngân,
Hoàng Đức Nhã,
Đỗ Bá Tân,
Đỗ Thủy Tiên,
ĐĐ Thích Thông Thiên,
Hồng Nga,
Nguyễn Phương Nga,
Ngô Văn,
Tâm Việt,
Đỗ Hiếu,
H.T. Nguyễn Thanh Liêm,
H.T. Võ Thanh Liêm,
L.T. Đông Phương,
Trần vấn Lệ,
Đỗ Trung Quân,
L.M.Nguyễn Hữu Lễ,
Phương Loan,
Nguyễn Bá Lộc,
L.S.Trần Lâm,
Pha lê,
Vũ Ánh Sương,
Shinra,
Trần Cảnh Xuân,
Lão Nông Võ Toàn,
Trung Điền,
Nguyễn Hữu Lục,
Thiên Phú,
B.S. Phạm Đức Vượng,,
Mặc Lâm,
Kiến Quốc,
Minh Huy,
Đức Đầu Bạc,
David Nguyễn,
Trần Thanh Nam,
Đức Trương,
Jimmy Vũ,
Mỹ Tiên,
Thiên Minh Giác Chúng,
Người Buôn Gió,
Trần Quang,
Lê Thương Hòa,
Võ Trụ,
ĐĐ Thích Chân Lý,
Bùi Thiện Huệ,
Lẩm Cẩm,
Lê Sáng,
Trường Sa.
User Block
Xin chào Khách
IP: 38.107.191.92

Tên bạn
Mật mã
100 Places
Kính mời quý vị vào trang nhà 100PLACES.COM để tham khảo vấn đề vùng đồng bằng sông Cửu Long (địa điểm thứ 96 ) là 1 trong 100 địa điểm trên quả địa cầu có nguy cơ sẽ biến mất do hiện tượng "Globalwarming".
Trực Tuyến
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
US 38.107.x.x
Khách Viếng
Đặc San Niềm Tin Việt Nam
Cơ Quan Ngôn Luận Của Liên Minh Dân Tộc Việt Nam