Việt Dương
Ôi! Đất nước sa cơ.
Phùng Cung
Trên nửa thế kỷ qua, trên tiến trình dựng nước, dân tộc Do Thái, đã đạt được nhiều thành tựu trên nhiều lãnh vực, trong đó nông nghiệp phải kể là một thành tựu phi thường. Vì từ bốn phương trời trở về Palestine, phải mua lại những vùng đất khô cằn hoặc đầm lầy, nhưng chỉ trong chục năm, người Do Thái đã biến vùng đất đó thành màu mỡ, và đã xây dựng được những cộng đồng nông thôn giàu mạnh và tiến bộ. Nhìn lại Việt Nam, một đất nước không thiếu đất, không thiếu sự cần cù, nhưng sau nửa thế kỷ dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Macxit-Leninit, người nông dân Việt Nam vẫn phải đắm chìm trong nghèo đói, lạc hậu. Đến nay, trước những thảm kịch của nông dân đang diễn ra hàng ngày, cùng với Hội Nghị Trung Ương 7 của đảng Cộng Sản Việt Nam, đặc biệt thảo luận về tam nông và ra nghị quyết về tam nông, chúng tôi xin ghi lại đây ít điều về tam nông Do Thái để từ đó nhìn vào thực trạng tam nông Việt Nam.
I. Nông dân Do Thái.
A. Tìm về đất tổ.
Trên 2000 năm phải sống lưu lạc trên khắp thế giới, người Do Thái đời đời ghi khắc nguyện ước là sẽ có ngày dân tộc Do Thái trở về đất tổ ở Palestine. Với niềm nguyện ước này, trong những thế kỷ 18, 19, đã có những nhóm nhỏ Do Thái tìm đường về Palestine. Nhưng phải tới cuối thế kỷ 19, nguyện ước này mới thành một phong trào rộng lớn có tổ chức và lý luận cụ thể để chuyển nguyện ước thành hiện thực. Theo lịch sử Do Thái thì sự chuyển biến này đã do mấy nguyên nhân sau:
1. Sự xuất hiện của Theodor Herzl.
Theodor Herzl là ký giả Hung, gốc Do Thái, là thông tín viên ở Paris của New Free Press, một nhật báo hàng đầu ở Vienne. Nhân ở Paris, ông đã được chứng kiến chủ nghĩa bài Do Thái (Anti-Semitism) ở Pháp trong vụ án xử Dreyfus, một sỹ quan gốc Do Thái trong quân đội Pháp can tội bán tài liệu quân sự mật cho Đức. Tuy sau này Dreyfus được minh oan và phóng thích, nhưng vụ án đã làm bùng lên phong trào bài Do Thái của báo chí và dân chúng Pháp. Và Herzl đã bàng hoàng trước những tiếng hò hét “Giết chết bọn Do Thái” trên khắp đường phố Paris. Từ đó ông nghĩ về thảm kịch của dân tộc Do Thái và viết tập sách The Jewish State, trình bày quan điểm là người Do Thái phải tự mình tái lập một quốc gia để có thể sống như một người tự do. Mặc dù phong trào Zionist (trở về Palestine) đã có từ lâu, nhưng Jewish State đã đưa ra một kế hoạch thực tiễn về lãnh đạo, về tổ chức, về chương trình vận động và đã vạch ra một hướng thực tiễn cho phong trào Phục Quốc (Zionism). Vì thế sau khi Jewish State xuất bản được một năm, Herzl đã thành công trong việc triệu tập một hội nghị, qui tụ các đại biểu Do Thái trên toàn thế giới, ở Basle, Thụy Sĩ, tháng 8/1879. Kết quả của hội nghị là thiết lập tổ chức The World Zionist Organization và Theodor Herzl được bầu làm chủ tịch. Như thế với hội nghị Basle gọi là The First Zionist Congress, người Do Thái đã đặt nền cho phong trào Zionist như là một phong trào chính trị thế giới.
2. Phong trào bài Do Thái ở Âu Châu.
Trong 2000 năm lưu lạc, người Do Thái bị kỳ thị, ngược đãi ở nhiều nơi, nhưng không ở đâu nặng nề như ở Nga và các quốc gia Đông Âu. Lịch sử đó quá dài và phức tạp, nên ở đây chỉ xin trích lại ít điều từ bản nghiên cứu Anti-Semitism and Holocaust của Laureen Moe trên mạng Anti-Semitism.
Theo L. Moe thì từ năm 1881, sau vụ ám sát Nga Hoàng Alexander II, người Do Thái bị nghi là dự phần âm mưu, nên việc tàn sát Do Thái trở thành chính sách của chính quyền Nga. Từ đó, những cộng đồng Do Thái lớn đã là những mục tiêu của sự bạo động, gọi theo chữ Nga là Pogrom, có nghĩa là sự tấn công với tàn phá, cướp bóc tài sản, giết chóc và hãm hiếp. Đáng kể là những trận pogroms ở Kiev và Odessa. Vì ở đây việc tàn sát toàn gia là việc rất thường. Theo tài liệu được ghi lại thì trong 530 cộng đồng đã phải chịu 887 vụ tàn sát lớn và 349 vụ tàn sát nhỏ với số người chết khoảng 60.000, chưa kể số người bị thương.
Trong những nước Đông Âu như Ba Lan, Rumania, Hung Gia Lợi và Áo, người Do Thái cũng phải chịu những trận tàn sát, nhưng ở con số nhỏ hơn. Tới thập niên 1930 thì số phận người Do Thái ở Đức và Đông Âu phải chịu một kiếp nạn tàn sát khủng khiếp, được gọi là Holocaust, chữ này đã được dùng để chỉ giai đoạn hủy diệt người Do Thái ở Đức khi Adolp Hitler lên nắm chính quyền năm 1933.
Tài liệu của The United States Holocaust Memorial Museum (online) cho biết năm 1933, Đức Quốc Xã bắt đầu thực hiện ý thức hệ chủng tộc và 525.000 người Do Thái (khoảng 1% trong tổng số dân Đức) đã là mục tiêu chính, vì Quốc Xã coi Do Thái là chủng tộc thấp kém, là mối hại cho sự thuần khiết của chủng Đức (Aryan) là chủng cao cấp. Từ đó Quốc Xã tiến hành việc hủy diệt Do Thái qua mấy giai đoạn:
Thứ nhất là thay đổi vị thế công dân của Do Thái.
Tháng 4-1933, với đạo luật công bố ở Nuremberg, Do Thái đã bị xếp thành công dân hạng nhì và bị loại ra khỏi các cơ quan công quyền, trường đại học, tòa án, không được học trường công, đi coi hát, tới những vùng nghỉ mát, nghỉ hè, đồng thời bị cấm cư trú và đi lại trong một số khu vực của nhiều thành phố.
Thứ nhì là thu hẹp đời sống kinh tế:
Từ 1937 tới 1939, người Do Thái bị tách khỏi đời sống kinh tế với những biện pháp tước đoạt hay ép buộc người Do Thái bán lại cơ sở doanh nghiệp với giá rẻ. Sau đó là tổ chức những cuộc bạo động phá hủy giáo đường, cửa tiệm, nhà cửa và giết người.
Thứ ba là tập trung người Do Thái vào những trại tù:
Từ 1938, Quốc Xã đốt hết giáo đường Do Thái và những người Do Thái chưa kịp hay không thể tẩu thoát khỏi nước Đức hay những nước Quốc Xã mới chiếm ở Đông Âu đều bị bắt và đưa đến những trại tập trung.
Và cuối cùng là khoảng 6 triệu người Do Thái trong những trại tập trung đã bị hủy diệt trong những lò hơi ngạt.
Tuy áp dụng phương pháp hủy diệt hàng loạt, nhưng do thời gian kéo dài cùng với những khó khăn trong chiến tranh, nên Đức Quốc Xã đã không thể thực hiện nổi điều mà Hitler gọi là “Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái”, nên từ 1933 đến 1939, khoảng một nửa số dân Do Thái Đức và 2/3 Do Thái Áo đã trốn thoát khỏi tay Đức Quốc Xã. Phần lớn số này đã tìm đường qua Hoa Kỳ, Palestine và một số nước Âu Châu, và số này lại rơi vào tay Quốc Xã khi Đức xâm chiếm các nước Đông Âu.
Như thế từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, những trận pogroms ở Nga, ở Đông Âu, và Holocust ở Đức đã là những động lực tạo thành những đợt di dân tràn về Palestine, gọi là Aliya (nghĩa là Đi lên Zion), mà sử Do Thái đã phân chia thành nhiều đợt với tính chất khác nhau của mỗi đợt như sau:
1. Aliya thứ nhất: Từ 1882 đến 1903, khoảng 35.000 đến từ Nga do phong trào bạo động chống Do Thái trên khắp nước Nga từ 1882, trong đó có một số đến từ Yemen. Đợt này đa số tìm sinh kế trong mấy thành phố và chỉ một số nhỏ đi vào nghề nông.
2. Aliya thứ nhì: Từ 1904 đến 1914, đa số cũng từ Nga. Trong giai đoạn này, để vượt qua những khó khăn trong việc khai khẩn những vùng đất hoang khô cằn hoặc đầm lầy, phải cần sự hợp tác làm chung, nên di dân đã thiết lập một thứ làng tập thể gọi là kibbutz và đồng thời cũng tổ chức lực lượng tự vệ để bảo vệ cộng đồng chống lại những toán cướp Ả Rập.
3. Aliya thứ ba: Từ 1919 tới 1923, gần 50.000 người cũng từ Nga tới sau thế chiến thứ I. Giai đoạn này Anh quốc đã chiếm Palestine của Đế quốc Ottoman và được quyền ủy trị của Hội Quốc Liên (League of Nations) năm 1922. Di dân đợt này cũng theo chân đợt trước thiết lập những cộng đồng nông nghiệp tự túc.
4. Aliya thứ tư: Từ 1924 tới 1929, khoảng trên 80.000 người đến từ Ba Lan và Hung do phong trào bài Do Thái ở mấy nước Đông Âu. Đợt này gồm nhiều gia đình trung lưu, nên đã tới những thành phố phát triển và thiết lập nhiều ngành kinh doanh nhỏ và kỹ nghệ nhẹ.
5. Aliya thứ năm: Từ 1929 tới 1939, khoảng 250.000 người tới từ Đức và các nước Đông Âu để tránh chế độ Đức Quốc Xã, trong đó khoảng 174.000 đã tới giữa những năm 1933-36, còn sau đó vì chính quyền Anh thực hiện chính sách hạn chế người Do Thái vào Palestine, nên số còn lại đã phải tới bằng những đường bí mật bất hợp pháp do những tổ chức Do Thái ở Palestine tổ chức, được gọi là Aliya Bet. Đợt di dân này có nhiều nhà chuyên nghiệp gồm bác sĩ, luật sư, giáo sư và nghệ sĩ thuộc nhiều bộ môn. Và tới năm 1940, dân số Do Thái ở Palestine đã lên tới 450.000 người.
B. Tạo dựng cộng đồng nông thôn.
Zionist leaders 1929
|
Người Do Thái trở về đất tổ Palestine, nhưng là di dân không có đất, nên trong Aliya thứ nhất, đa số đã tìm kế sinh nhai bằng buôn bán ở mấy thành phố, và chỉ một số ít đi vào nghề nông. Nhưng sau khi tổ chức Zionist quốc tế ra đời thì những hội viên Zionist đã mở văn phòng The Zion Colonization Society ở Jaffa để cùng với tổ chức Palestine Investment Corporation của Rothschild và De Schmann Foundation gia tăng việc mua đất để thiết lập làng cho di dân.
Trong thời kỳ này Palestine là tỉnh thuộc Đế quốc Ottoman, hầu hết đất đai do vài chục gia đình điền chủ thế lực Ả Rập làm chủ và đám điền chủ này đã bán những vùng đất khô cằn cỗi hoặc vùng đồng lầy cho Do Thái, vì nghĩ rằng những vùng đất ấy không thể trồng trọt gì được. Cứ như thế, những người định cư trước, những nhà từ thiện khuyến khích định cư như Baron de Rothschild ở Paris hay những quỹ công được những hội viên Zionist hải ngoại quyên góp đã tiếp tục mua đất của những điền chủ Ả Rập vắng mặt. Vì thế tới năm 1900, Do Thái đã mua được 218.000 dunams, và đến 1914 diện tích do người Do Thái làm chủ đã lên tới 419.000 dunams, trong đó 220.000 dunams đã được trồng trọt. (4 ½ dunams bằng 1 acre).
(A. Elon, The Israelis: Founders and Sons, New York: Holt and Winston, 1971, trg. 90)
1. Thực hiện con đường bắt rễ vào đất.
Đợt Aliya thứ nhất chỉ tăng thêm sự hiện diện của người Do Thái trên đất Palestine chứ không đặt được nền cho lý tưởng phục quốc như Ben Gurion nhận định khi ông từ Nga trở về Palestine trong đợt Aliya thứ nhì. Ở đây, ông đã đụng phải những thất vọng mà thất vọng đầu tiên là nhìn thấy những người Do Thái của đợt Aliya thứ nhất đã sống như những điền chủ, thuê mướn công nhân làm vườn cho mình, và lợi dụng ngay những người đồng chủng trong cảnh khốn khó. Theo ông thì người Do Thái không bao giờ có thể phục quốc theo cách đó, vì giữa đất và người phải có mối liên hệ lao động.
(Ben Gurion, Israel: Years of Challenge, New York: Holt and Winston, 1963, trg. 7)
Từ nhận định này, Ben Gurion đã là một trong những người tiền phong đi khẩn hoang thành lập những làng kiểu mẫu đầu tiên cho mục đích bắt rễ vào đất Palestine như Joan Comay đã thuật lại:
“Khi Ben Gurion bắt đầu tìm kiếm việc làm, thực tế chán nản hơn. Thật khó kiếm ra việc. Chủ nông trại Do Thái, cũng như chủ trại Ả Rập, thích dùng lao động Ả Rập địa phương trả vài cents một ngày hơn là những người di dân trẻ thiếu kinh nghiệm từ Nga đến. Trong một năm, việc chính của David (Gurion) là đẩy xe cút kít chở phân bón từ chuồng súc vật tới vườn cây trái và rải phân quanh cây. Làm việc này, anh được trả đủ cho một cái giường và một bữa ăn đạm bạc mỗi ngày. Vùng này là đầm lầy nên chẳng bao lâu David bị sốt rét. Bác sĩ ở làng đã khuyên anh nên trở về Ba Lan như một số người mới đến trước đây đã đụng phải tình cảnh của anh, nhưng chuyện trở về là điều anh không bao giờ nghĩ đến.
Trong thời gian làm thuê ở đây, David thường lội bộ trở lại Jaffa tham dự những cuộc họp với nhóm Poalei Zion (Labor Zionist). Nhóm này quan niệm rằng người Do Thái ở Palestine không nên chỉ là những học giả tôn giáo, mà phải phát triển một giai cấp nông dân và công nhân. Vì thế nhóm đã quyết định tổ chức những công nhân Do Thái ở nông trại và ở hãng rượu vang gần làng Rishon le Zin để cải thiện tiền lương và điều kiện làm việc. Theo mục đích này, David và 2 người khác đã được phái đi như là một phái đoàn để thảo luận với ban giám đốc của hãng rượu và đã đạt được kết quả là điều kiện làm việc ở đó đã trở nên khá hơn.
Sau đó, David mong muốn ra khỏi vùng Jaffa để tới Galilee, nơi mà khi còn ở Plonsk anh đã nghe là có cảnh sống giống như đời sống của những người đi khai quốc ở biên ải. Vì thế anh và một người bạn đã đi bộ 2 ngày lên phía bắc vùng đồi núi Galilee ở Nazareth và tới Sejra. Và ở đây hai người đã nhập vào một nhóm thanh niên nam nữ đang khai hoang một vùng đất đầy đá. Nhóm này khai hoang nhưng không định cư vĩnh viễn mà họ chỉ làm công việc cải tạo đất cho một làng định cư Do Thái mới, rồi sẽ di chuyển để khẩn hoang một vùng khác. Đây là những khu đất do tổ chức Jewish Colonization Association (JCA) mua để di dân Do Thái định cư. Tổ chức JCA trả cho công nhân một số lương trong việc cải tạo đất. Nhóm của David và nhiều nhóm tương tự thấy rằng họ đang thực hiện lý tưởng Zionist bắt rễ vào đất. Vì từ bàn tay lao động, họ đang dựng lại quê hương và tạo cơ hội cho người Do Thái lại trở thành nông gia.
Sau khi làm xong đất ở Sejra, nhóm lại tiếp tục công việc cải tạo vùng đất đầm lầy ở bờ phía tây sông Jordan do tổ chức Jewish National Fund (JNF) mua. Nhưng lần này, Joseph Baratz, một nhóm viên, đã đặt vấn đề là tại sao họ không ở lại nơi này làm ăn sinh sống thay vì đi làm đất ở vùng khác. Và vấn đề đã dấy lên một cuộc tranh cãi gay gắt. Một số cho rằng làm như thế sẽ phản lại lý tưởng của nhóm vì sẽ trở thành nông gia và điền chủ. Baratz luận giải là họ sẽ không là nông gia tư hữu, thuê mướn nhân công mà sẽ kết thành nhóm, tự làm mọi việc và phân chia những gì họ có. Tổ chức JNF đồng ý cho nhóm thuê đất, và tiền thuê sẽ được trả trên hoa lợi. Từ đó nhóm đã gọi nơi này là Degania, lấy từ chữ Hebrew là Dagan, nghĩa là hạt, và Degania là kibbutz đầu tiên của Israel”.
(J. Comay, Ben Gurion and The Birth of Israel, New York: Randon House, 1967, trg. 28)
Thử nghiệm thành công của Degania đã là đáp án cho con đường phục quốc. Vì thế phong trào kibbutz đã phát triển nhanh với trên 100 kibbutzim (số nhiều của kibbutz) được xây dựng trong thập niên 1920. Nhưng cũng trong thời gian này, nông gia Do Thái với khuynh hướng tự do đã chống lại tính chất tập thể của kibbutz, nên đã xây dựng một loại làng khác gọi là moshav. Loại làng moshav cũng phát triển nhanh và từ đó đã cùng với kibbutz tạo thành nông thôn Do Thái.
2. Sự phát triển của kibbutz và moshav.
a. Kibbutz:
Kibbutz, tiếng Do Thái có nghĩa là nông trại tập thể, là một cộng đồng đặc biệt, thực hiện một chế độ kinh tế xã hội đặt căn bản trên nguyên lý sở hữu chung tài sản, làm chung và hưởng chung.
Về tổ chức:
kibbutz - nông trại tập thể
|
Hầu hết các kibbutz có hệ thống tổ chức giống nhau như sau:
Khu vực cư trú gồm có nhà trại viên, vườn, nhà trẻ, sân chơi cho mọi lứa tuổi và những cơ sở chung như phòng ăn, hội trường, thư viện, bệnh viện, nhà giặt, tiệm tạp hóa…. Cạnh khu vực cư trú là trại bò sữa, chuồng gà, và một hay vài nhà máy kỹ nghệ. Bên ngoài khu vực này là đồng ruộng, vườn cây trái và ao cá.
Trong kibbutz, mọi người bình đẳng về trách nhiệm và thụ hưởng. Phụ nữ và nam giới làm việc như nhau. Trại viên không có lương, nhưng được cung cấp mọi nhu cầu của đời sống gồm cả giáo dục và y tế, cùng ăn trong một nhà ăn. Theo sự phát triển, nhiều kibbutz có nhà ăn tân tiến, hồ bơi, nhà tập thể dục, phòng triển lãm, phòng hòa nhạc và trung tâm văn hóa.
Hệ thống quản lý kibbutz là chế độ dân chủ trực tiếp được điều hành với những ủy ban được đại hội bầu ra theo những chức năng như nhà cửa, tài chánh, kế hoạch sản xuất, y tế và văn hóa. Những trưởng ban của những ủy ban này cùng với viên thư ký, người đứng đầu kibbutz, họp thành Ban Điều Hành Kibbutz. Trong đó, chức thư ký, thủ quỹ và nhân viên điều hợp lao động thì làm toàn thời, còn những thành viên khác thì ngoài việc làm ở uỷ ban vẫn làm những việc sản xuất như những người khác.
Về việc nuôi dạy trẻ:
Trước kia, ở những giai đoạn khởi thủy, trẻ em sống riêng, xa cách với cha mẹ. Chúng có thể về với cha mẹ vào những buổi chiều hay những ngày cuối tuần. Sau đó, trong nỗ lực xây dựng gia đình bền vững với mối ràng buộc tình cảm, nhiều kibbutz đã để trẻ nhỏ ngủ tại nhà với cha mẹ cho tới tuổi đi học.
Từ mẫu giáo, hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến sự hợp tác trong đời sống hàng ngày. Khi đến cấp cao hơn, trẻ nhỏ được chỉ định làm việc theo nhóm cùng tuổi: Nhỏ làm những việc thích ứng với tuổi, lớn hơn phải làm một số việc trong kibbutz và ở cấp trung học, mỗi tuần chúng phải dành một ngày cho một ngành nào đó của nền kinh tế kibbutz.
Đối với hệ thống giáo dục thì tiểu học, học tại trường tiểu học của mỗi kibbutz. Cấp trung học có trường trung học khu vực, gồm một số kibbutz để mở rộng các môn chuyên biệt và sự liên hệ xã hội. Ngoài ra kibbutz còn cung cấp chỗ ăn, ở cho những người trẻ thuộc mọi lứa tuổi có khả năng đặc biệt cần phát triển.
Về phát triển:
Ngày nay Israel có khoảng 270 kibbutzim với dân số khoảng 130.000 người (2.5% dân số toàn quốc). Đa số các kibbutz có từ 500 tới 600 người. Từ sự làm việc cần mẫn với những phương pháp canh tác tân tiến, nông dân Do Thái đã đạt được những kết quả đáng kể trong các ngành nông nghiệp như trồng tỉa, vườn cây trái, chăn nuôi gia cầm, bò sữa và nuôi cá. Và trên một thập niên trở lại đây, ngoài nông nghiệp, hầu hết các kibbutz đã phát triển nhiều ngành kỹ nghệ sản xuất, chế biến thực phẩm, dịch vụ và cả du lịch.
b. Moshav.
Làng kibbutz đã là giải pháp cho việc định cư trong hoàn cảnh đặc biệt của di dân Do Thái, nhưng có nhiều di dân đã không chấp nhận đời sống ở kibbutz vì loại làng tập thể này đã không cho họ một đời sống riêng tư với một ngôi nhà, một mảnh đất riêng. Do đó họ đã tách ra thực hiện một loại làng khác gọi là moshav, tiếng Hebrew là làng hợp tác, mà moshav đầu tiên đã do Shmuel Dayan xây dựng. Ông là thân phụ của tướng độc nhãn Moshe Dayan và đã từ Ukraine tới Palestine năm 1908 trong đợt Aliya thứ nhì, là người đi xây dựng kibbutz, nhưng rồi ông đã chống lại chế độ làm chung, sống chung và ăn chung của kibbutz. Vì thế tới đầu thập niên 1920, ông đã tới thung lũng Jezreel, lập làng moshav và đặt tên là Nahalal (the heritage) theo địa danh trong kinh thánh.
(Amos Elon, sđd, trg. 18)
Về tổ chức:
Moshav giống kibbutz mấy điểm ở cơ cấu lãnh đạo, ở sở hữu chung nông cụ (loại nặng) và ở hệ thống mua bán chung. Còn khác kibbutz ở điểm về tự do cá nhân với gia đình có nhà riêng và tự canh tác trên mảnh đất của mình.
Về phát triển:
Do đáp ứng được hai nhu cầu về hợp tác để phát triển cộng đồng và giữ được đời sống tự do, nên phong trào moshav đã phát triển nhanh. Trong thập niên 1950, nhiều di dân Do Thái từ các nước Đông Âu và Ả Rập về Palestine, thấy đó là kiểu làng thích hợp, nên họ đã xây dựng nhiều làng moshavim (số nhiều của moshav). Vì thế tới thập niên 1980, moshav đã lên tới 448 làng với số dân khoảng 156.700.
B. Thành tựu.
Nông thôn Do Thái đã được tạo thành từ hai loại làng kibbutz và moshav, và chỉ trong vài thập niên, nông dân Do Thái đã tạo được những kỳ công mà lịch sử Do Thái gọi là phép lạ. Xin tóm tắt ít điều về những kỳ công đó như sau:
1. Về kinh tế:
a. Làm sống lại miền đất khô cằn.
Nông dân Do Thái đã làm sống lại một miền đất đã bỏ hoang hàng nhiều thế kỷ với khai hoang, dẫn thủy và trồng cây. Làng được tạo lập ở đâu là ở đó trồng nhiều cây và việc trồng cây, trồng hoa đã trở thành một nếp sống văn hóa Do Thái, vì cây đã cho họ màu xanh trên những vùng đất khô cằn, và mươi, hai mươi năm sau cây sẽ giúp họ giữ đất khỏi bị soi lở. Vì thế những làng kibbutz và moshav khởi đầu được tạo dựng trên những vùng đất cằn nứt nẻ, toàn là một màu nâu đen, nhưng chỉ sau vài năm, những làng đó đã đầy cây xanh và trong làng đầy hoa.
Tổ chức Jewish National Fund được thành lập năm 1901 để mua đất cho dân Do Thái lập làng định cư, nhưng sau khi Israel được thành lập năm 1948 thì hoạt động của JNF đã chuyển sang công tác phát triển và cải thiện đất cũng như trồng cây gây rừng. Với những chương trình đó, nhiều đầm lầy đã được rút nước, những ngọn đồi được dọn đá, san thành những bậc thang để canh tác. Còn trồng cây gây rừng thì chỉ trong thập niên 1990, JNF đã trồng trên 200 triệu cây trên diện tích 120.000 ha rừng. Về dẫn thủy, theo thống kê, số đất canh tác đã tăng từ 250.000 ha năm 1950 lên 440.000 ha năm 1984, và trong số đất này, tỷ lệ đất được dẫn thủy đã tăng từ 15% năm 1950 (37.000 ha) lên 54% năm 1984 (237.000 ha). Lượng nước được dùng cho nông nghiệp đã tăng từ 332 triệu mét khối năm 1950 lên 1.2 tỉ mét khối năm 1948.
b. Chinh phục sa mạc.
Sa mạc Negev rộng 13.310 ki lô mét vuông, chiếm hơn một nửa diện tích Israel, đã bị bỏ hoang nhiều thế kỷ. Toàn sa mạc là đất đá xám với đồi núi đá và hẻm núi sâu. Khí hậu thay đổi đột ngột từng tháng, nóng và ít mưa (2-4 in/năm), nên trên toàn sa mạc không có một cộng cỏ. Vì thế để chinh phục Negev, Israel đã thực hiện mấy chương trình sau:
National Water Carrier
|
Thứ nhất là tìm nước:
Năm 1964, Israel hoàn thành chương trình Israel National Water Carrier (INWC) với hệ thống ống nước khổng lồ, dài 350 km, dẫn nước từ Hồ Galilee ở phía bắc xuống những vùng ít mưa ở miền trung và miền nam. Từ hệ thống dẫn nước này, hàng năm Negev đã có thêm 320 triệu mét khối nước (tăng 75%). Vì thế, tới năm 1985, khoảng 60.000 hectares đã được cải tạo canh tác, và một vùng cát đá đã nhường chỗ cho vườn cây trái, các loại rau, ngũ cốc và bông. Ngoài việc dẫn thủy bình thường, người Do Thái còn sử dụng thêm môt kỹ thuật dẫn nước mới là hệ thống ống phun nước trên cánh đồng và trong các vườn cây.
Tuy nước hồ Galilee đã xanh hóa sa mạc Negev, nhưng không đủ, vì hồ Galilee còn phải dành nước cho những vùng khác, nên Israel đã phải đi tìm những nguồn nước ngầm nằm dưới sa mạc. Đó là những dòng nước đã bị chôn vùi từ thời Băng Hà (Ice Age). Một phần nhỏ của tầng nước ngầm này đã được hút lên và khoa học gia Israel tin tưởng là rồi đây cả sa mạc Negev sẽ tràn đầy với nước ngầm.
Thứ nhì là di dân:
Kibbutzim
|
Cùng với nước, trong thập niên 1950, 60, nhiều kibbutzim và moshavim đã được thiết lập trên khắp sa mạc. Và cũng trong thời gian đó, kibbutz và moshav đã tạo ra màu xanh của làng, của vườn cây trái, của cánh đồng, để lấp dần màu xám và nâu của sa mạc. Từ đó, nông dân Negev đã chăn nuôi bò, dê và cừu, đã sản xuất cam, nho, táo, dầu olive, khoai, cà rốt, hoa và bông… vừa cung cấp cho nhu cầu trong nước, vừa xuất cảng. Chẳng hạn ở phía bắc thành phố cảng Eilat, kibbutz Yotrata là một trong những trung tâm chế biến sữa hàng đầu trong xứ. Ở miền trung Negev, Kibbutz Na’ama và Roa, gần kibbutz Sde-Boker, nơi định cư của Ben Gurion, đã sản xuất rượu vang bằng nho của địa phương. Ở biên giới Israel và Ai Cập, moshav Kadesh-Barnea chuyên trồng các loại hoa để xuất cảng. Rồi ở phía bắc, kibbutz Yad Mordekhai là trung tâm sản xuất mật ong lớn nhất của Israel.
Thứ ba là khai thác quặng mỏ:
Người Do Thái đã biến sa mạc Negev thành nông trại màu mỡ, xanh tươi, nhưng dưới mặt đất đá, Negev còn chứa nhiều thứ quặng mà đầu thập niên 1960, thủ tướng Ben Gurion đã cho biết: “Negev có một cái biển khác (ngoài Hồng Hải), không quan trọng về chuyển vận, vì là một cái hồ bị đóng kín trong đất liền: Đó là Biển Chết (Dead Sea). Tuy thế, nó đặc biệt, vì nằm trong cái khe hở sâu nhất trên mặt địa cầu, khoảng 400 mét dưới mực mặt biển, và nó có nhiều muối và khoáng sản hơn bất cứ khu vực nào khác trên thế giới. Nó chứa khoảng 2 tỉ tấn potash, trên 20 tỉ tấn magnesium chloride, trên 10 tỉ tấn sodium chloride, khoảng 6 tỉ tấn calcium chloride, khoảng 1 tỉ tấn magnesium bromide và những khoáng sản khác.
Từ khi Negev được quân lực Israel khai phá thì tuy việc nghiên cứu chưa được nhiều, nhưng cho thấy là ở đó không phải chỉ có đồng và sắt mà còn tiềm tàng nhiều thứ quan trọng khác. Chẳng hạn nhiều quặng phosphate đang được khám phá, trong đó nguồn uranium, nguyên tố cần thiết cho việc nghiên cứu nguyên tử đã được phân tách. Chúng tôi cũng đã tìm ra thạch cao, bảo thạch, đá granit, quặng cát làm kính có phẩm chất hàng đầu, đá chứa hắc ín, kaolin, khí đốt thiên nhiên…”
(David Ben Gurion, sđd, trg. 197)
Qua những khám phá này, kỹ nghệ khai thác quặng mỏ đã phát triển. Với hệ thống đường xuyên sa mạc, từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, các thành phố đã mọc lên. Và tới nay thì tiếng “sa mạc” đã gần như bị lãng quên, vì Negev đã trở thành đất sống cho gần 700.000 dân Do Thái và trên 70.000 dân Bedouin, với hai thành phố quan trọng: Thành phố Beershera ở trung tâm có 190.000 người (2005) và thành phố Eilat, 55.000 người, là hải cảng trên vịnh Aquaba, đường thủy thông ra Hồng Hải (Red Sea) để qua phi Châu và Á Châu.
c. Tự túc lương thực.
Mặc dù phải chịu những điều kiện bất lợi, nông nghiệp Israel đã vượt xa những nước Ả Rập chung quanh, và đã đạt tới mức ngang với những nước tư bản tân tiến. . Kết quả này có thể thấy ở mấy điểm sau:
Về lương thực: Năm 1948, Israel chỉ sản xuất được 30% lương thực cần thiết, nhưng đến thập niên 1980, con số này đã đạt tới 80%.
Về xuất cảng: Với hiệu quả gia tăng năng xuất cùng với việc đa diện hóa khu vực nông nghiệp, Irael đã có thể xuất cảng một số lượng lớn nông sản sang Âu châu. Có thể kể:
- Trái cây gồm cam, táo, chanh, nho, chuối, avocado và đào.
- Rau đậu gồm cà chua, khoai tây, khoai lang, các loại dưa, ớt ngọt, củ cải ngọt và đậu phụng.
- Hoa gồm nhiều loại như hồng, huệ, tulip, phong lan và cẩm chướng. Đặc biệt là hoa Do Thái đã nổi tiếng từ lâu và có giá trị cao ở thị trường Âu Châu.
- Và các thứ nông sản khác như thịt bò, gia cầm, sữa và các loại sản phẩm sữa. Đặc biệt về ngành nuôi bò sữa, Israel đã đạt được mức kỷ lục là một con bò có thể cho 11.000 lít sữa trong một năm.
Tính chung về nông sản xuất cảng (cả tươi và chế biến), năm 1997 đã đạt trên 1.329 tỉ mỹ kim, chiếm khoảng 6.4% tổng số xuất cảng năm 1997.
2. Về văn hóa.
Nông thôn Do Thái đã đóng một vai trò then chốt trong việc phục hưng nền văn hóa Do Thái trên đất Palestine. Ở đây xin ghi lại mấy vấn đề căn bản:
a. Thứ nhất là tôn giáo:
Judaisum
|
Do Thái giáo (Judaism) là tôn giáo độc thần.
Về thượng đế, người Do Thái tin có vị Thượng Đế (God) tạo và ngự trị thế giới. Ngài toàn năng, toàn tri, hiện diện khắp nơi, công minh và nhân từ.
Về loài người, người Do Thái tin rằng mỗi người được tạo ra trong hình ảnh của Thượng Đế. Vì thế, mọi người được sinh ra bình đẳng, và tin rằng con người có ý chí tự do và chịu trách nhiệm đối với những việc đã làm.
Về đức lý, Do Thái giáo dạy rằng khi người Israel đã chấp nhận 10 điều răn của Thượng Đế trên đỉnh Sinai thì họ phải cam kết tuân theo luật qui định cách thờ phụng Thượng Đế và cư xử với người khác.
Về sách kinh, Do Thái giáo có kinh Torah. Torah nghĩa là Dạy, là sự mặc khải của Thượng Đế cho dân Do Thái. Do đó, người Do Thái tuân theo kinh để nghĩ và hành động, để cảm về cái sống và cái chết, để biết về sự liên hệ của Thượng Đế với dân Do Thái.
Về lãnh thổ, Do Thái giáo tin rằng miền đất Israel (Eretz Yirael) là một phần theo lời hứa của Thượng Đế với dân tộc Do Thái trên núi Sinai. Từ thời Abraham đã có sự hiện diện liên tục của Do Thái trên đất Israel. Vì thế đất Israel đã được gọi là đất hứa (Promised land).
Về đấng cứu thế, Người Do Thái tin đấng cứu thế (Messiah) sẽ là một người (không phải là một vị chúa), từ gia đình của vua David, sẽ đưa thế giới tới thống nhất và hòa bình. Người Do Thái không tin chúa Jesus là đấng cứu thế.
Trên 2000 năm bị lưu tán, Do Thái giáo đã là mối giây liên kết người Do Thái ở bất cứ đâu và đã cung cấp cho người Do Thái một niềm tin và một nếp sống văn hóa tín ngưỡng Do Thái. Mặc dù trong những hoàn cảnh nghiệt ngã, bị bách hại ở những nước Âu Châu như Nga và nhiều nước Đông Âu, nhưng người Do Thái vẫn giữ tôn giáo của mình để cuối cùng đem tín ngưỡng ấy về Palestine, củng cố và phát triển trong những làng kibbutzim và moshavim.
Hebrew alphabet
|
b. Thứ nhì là ngôn ngữ:
Từ thân phận lưu đày qua nhiều đời, tiếng Hebrew, ngôn ngữ cổ Do Thái, đã trở thành tử ngữ, chỉ còn được dùng để cầu nguyện trong các giáo đường Do Thái trong các ghettos. Tuy dân Do Thái có thứ tiếng nói riêng là Yiddish, một thứ phương ngữ Đức được kết hợp với tiếng Hebrew, Ba Lan và Nga, và được khoảng 4 triệu người dùng ở Rumania, Nga, Pháp và Hoa Kỳ, còn đa số Do Thái, ở xứ nào thì nói tiếng xứ đó. Nhưng tiếng Hebrew đã được hồi sinh nhờ công trình của nhà ngôn ngữ học Elira Ben-Yehuda (1858-1922). Ông đã từ Lithuany trở vể Palestine năm 1882, và đã cùng một nhóm cộng sự tận tụy cho công trình làm sống lại ngôn ngữ Hebrew. Để thực hiện mục tiêu này, Ben Yehuda đã lập ủy ban ngôn ngữ Do Thái, tạo hàng ngàn từ mới cùng ý niệm trên những nguồn kinh thánh, Talmudic và những nguồn khác để đáp ứng với những nhu cầu của thế kỷ XX. Công trình của Ben Yehuda đã được dân Do Thái hưởng ứng và cộng đồng nông thôn từ những ngày đầu đã là những trung tâm phát triển tiếng Hebrew.
c.Thứ ba là nghệ thuật và ca nhạc:
Nhiều nông dân Do Thái trong kibbutz và moshav, trở về từ Nga, hay từ các nước Đông Âu và Tây Âu, vốn là trí thức và nghệ sĩ đủ các bộ môn nghệ thuật, nên cùng với đời sống lao động canh tác, họ đã biến cộng đồng nông thôn thành những trung tâm sáng tạo văn hóa, nghệ thuật với đủ các bộ môn thi ca, vũ, nhạc và họa. Từ đó, nông thôn Do Thái đã làm sống lại những lễ hội cổ truyền và những ngày quốc lễ. Để yểm trợ những tài năng trong các kibbutzim trên khắp nước, nhiều nhóm kibbutzim đã tổ chức phong trào yểm trợ các đoàn nghệ sĩ chuyên nghiệp gồm nhạc giao hưởng, nhạc thính phòng, các ban vũ mới và dân gian cùng kịch nghệ đi trình diễn thường kỳ ở Israel hay xuất ngoại.
Những viện bảo tàng do một số kibbutzim xây dựng, chuyên biệt nhiều bộ môn như nhân chủng, tự nhiên, nghệ thuật, lịch sử Do Thái và sự phát triển của Israel đã là những trung tâm lôi cuốn nhiều khách.
Về chuyện văn hóa này, Leon Uris đã tổng kết qua lời của bác sĩ Lieberman, một nhân vật trong tác phẩm Exodus như sau:
“Người Do Thái chúng tôi đã kiến tạo một nền văn minh đặc biệt ở Palestine. Ở mọi nơi trên thế giới, văn hóa của mỗi xứ hầu như luôn luôn phát xuất từ các thành phố lớn. Ở đây thì ngược lại. Cái khát vọng muôn đời làm chủ quê hương mình của dân tộc Do Thái đã quá lớn đến độ đã biến nông thôn thành nơi tạo ra di sản mới. Vì thế, thơ, nhạc, nghệ thuật, học giả và chiến sĩ của chúng tôi đã sinh xuất từ kibbutz và moshav”
(Leon Uris, Exodus, New York: Doubleday&Company, 1958, trg. 356)
3. Về dựng nước và giữ nước.
Trong việc lập quốc, nông thôn Do Thái đã đóng những vai trò then chốt sau đây:
a. Nông thôn chiếm giữ nhiều vị trí trên khắp Palestine:
Ngay từ những thập niên 1920, 30, những đợt di dân thứ nhì và thứ ba đã thiết lập những làng kibbutz và moshav từ phía bắc sát cao nguyên Golan vùng hồ Galilee, thung lũng Jezreel, dọc theo sông Jordan, biên giới Jordan, gọi là West bank, ở miền trung, dọc theo biển Địa Trung Hải xuống phía nam vùng núi Judean, rồi tới sa mạc Negev và Gaza.
Về việc này, tự điển bách khoa Wikipedia đã ghi:
“Kế hoạch và sự phát triển của những người Zionist tiền phong từ khởi đầu, ít nhất, một phần đã được quyết định theo những nhu cầu chính lược (politico-strategic). Việc chọn lựa địa điểm định cư, chẳng hạn, đã chịu ảnh hưởng không phải chỉ ở những tính toán về khả năng kinh tế mà còn chủ yếu vì nhu cầu phòng vệ địa phương, chiến lược định cư toàn thể, và vai trò những nhóm làng như thế có thể đóng trong tương lai, có lẽ cho một cuộc chiến đấu toàn lực. Vì thế, đất đai đã được mua hay được khai hoang ở những phần hẻo lánh của Palestine.
Những làng kibbutzim cũng đã đóng một vai trò xác định biên giới của quốc gia Do Thái (Jewish State) tương lai. Vào cuối thập niên 1930, khi có tin là Palestine sẽ được phân chia giữa Ả Rập và Do Thái, làng kibbutz đã được xây dựng ở những vùng rất xa trên lãnh thổ mandate của Anh, thậm chí nhiều kibbutzim đã được dựng trong đêm, để như chứng tỏ đất đai sẽ được sát nhập vào quốc gia Do Thái (sau này gọi là Israel), chứ không phải quốc gia Ả Rập Palestine.
Năm 1946, sau lễ Yom Kippur, mười một tháp và hàng rào của những làng kibbutzim đã được thiết lập vội vã ở miền bắc sa mạc Negev để cho Israel quyền đòi hỏi miền đất khô cằn, nhưng quan trọng về chiến lược này”.
b. Nông thôn thu hút di dân:
Từ tính chất tổ chức, những làng kibbutzim và moshavim là nơi có khả năng ổn định đời sống cho những người Do Thái mới về Palestine. Vì thế, những làng Do Thái đã phát triển nhanh theo những đợt di dân Aliya II và III. Năm 1922 chỉ có 700 người với 12 Kibbutz. Năm 1937 tăng lên 4000 với 29 kibbutz. Đến những năm trước thế chiến II, con số lên tới 26.000 với 82 làng.
Cho đến nay, trên toàn quốc có 268 kibbutzim, từ miền cao nguyên Golan ở phía bắc tới Hồng Hải ở phía nam. Dân số mỗi làng, cao nhất là 1000, còn hầu hết là mấy trăm. Khoảng 80% kibbutzim đã được tạo dựng trước ngày thành lập quốc gia Israel năm 1948.
c. Nông thôn là cơ sở luyện quân:
Từ khởi đầu, để bảo vệ việc định cư, năm 1920, những người lãnh đạo Yishuv (Palestine Jewish Community) đã thiết lập một đội quân bí mật gọi là Haganah (đội quân tự vệ). Đó là lực lượng dân quân, ngoại trừ một nhóm nhỏ là những người lãnh đạo và huấn luyện viên làm việc toàn thời được trả lương, còn tất cả là dân thường như nông dân, công nhân, học sinh, nhà chuyên môn…, được huấn luyện quân sự trong đêm và những ngày cuối tuần trong những vùng nông thôn. Về chuyện này, Leon Uris trong Exodus đã viết: “Trong việc tạo dựng Haganah, kibbutz đã là nơi tốt nhất để huấn luyện những chiến sĩ trẻ. Con số mươi hay hai chục người có thể dễ dàng sống giữa 3 hay 400 nông dân. Rồi kibbutz lại là nơi tốt nhất để chôn dấu vũ khí và chế tạo vũ khí nhỏ, và đa số những người lãnh đạo có tài của Haganah đã xuất thân từ các Kibbutzim”.
(Leon Uris, sđd, trg. 279)
d. Nông thôn là hàng rào chiến lược:
Trong những năm cuối thập niên 1940, kibbutzim và moshavim đã được giải khắp lãnh thổ Mandate Palestine. Mỗi làng đã trở thành một pháo đài (stronghold) được rào kín bằng những hàng rào thép gai với giao thông hào hay hàng rào cây với đất và dân làng đã sẵn sang tự vệ bất cứ lúc nào. Chính từ cảnh sống tay súng tay cày này mà nông dân Do Thái đã có thể chận đứng được những cuộc đột kích của những đội quân du kích của Ả Rập để giữ làng. Và khi Do Thái tuyên bố thành lập quốc gia Israel, hệ thống làng Do Thái đã là những hàng rào chận đứng những cánh quân chủ lực có xe tăng, pháo binh của Syria, Iraq và Ai Cập trong trận chiến cứu nước, khi những cánh quân này tiến vào Israel để “Ném người Do Thái xuống biển” như chính quyền mấy nước Ả Rập đã tuyên bố với Liên Hiệp Quốc.
Israel greenhouse
|
D. Nông thôn Do Thái ngày nay.
Khi mới xây dựng, kibbutz và moshav, thế hệ tiền phong với tư tưởng lấy lao động bắt rễ vào đất, đã đặt căn bản vào nông nghiệp, sau đó theo nhu cầu đã phải phối hợp sản xuất nông nghiệp với một số ngành kỹ nghệ như nông cụ, chế biến nông sản…. Rồi tới thập niên 1990, trước những tiến bộ về kỹ thuật và kinh tế thế giới, kinh tế nông thôn Do Thái đã biến đổi nhanh chóng, ngoài việc canh tân nông nghiệp, nông gia đã đa diện hóa nhiều ngành khác. Có thể kể:
Về sản xuất chế tạo: Thiết lập những xí nghiệp chế tạo sản phẩm kim loại, điện tử, plastics, cao su, dụng cụ nhãn khoa, dệt vải, y dược, văn phòng phẩm, đồ chơi, nữ trang và khí cụ âm nhạc…
Về sản xuất chế biến: Thiết lập những xí nghiệp liên hợp nông nghiệp chế biến các loại thực phẩm đóng hộp như thịt bò, thịt gia cầm và trái cây…
Về dịch vụ: Do dân số gia tăng và đô thị phát triển, nhiều vùng nông thôn trở thành những vùng ngoại ô đô thị, vì thế nông dân đã phát triển kỹ nghệ dịch vụ như giặt ủi, cung cấp thực phẩm, cửa hàng bán lẻ và trung tâm giữ trẻ.
Về du lịch: Ngành du lịch của Israel đã phát triển rất sớm, vì Palestine là miền đất chứa đựng nhiều thánh tích tôn giáo. Do đó, từ thập niên 1990, nhiều kibbutzim và moshavim đã tận dụng vị thế sẵn có là cái đẹp của làng, ở khắp nơi từ miền núi, hồ, biển tới sa mạc, để biến nông thôn thành những trung tâm du lịch. Du khách tới đây có nhà khách, khách sạn, bể bơi, đi ngựa, viện bảo tàng, sở thú, nghe hòa nhạc bên hồ và dự những hội lễ nông nghiệp với vũ điệu dân gian Hora trong lễ Olive tháng mười, lễ hái nho mùa hè, lễ hái đào vào cuối Xuân và nhiều thứ hội khác nữa.
Theo sự đa diện hóa, nông dân Do Thái đã tham gia các ngành nghề theo tỷ lệ như sau:
- Nông nghiệp và nuôi cá: 24%
- Kỹ nghệ, quặng mỏ: 24%
- Du lịch, thương mại và tài chánh: 11%
- Vận tải: 5%
- Xây dựng: 1%
- Dịch vụ cộng đồng: 18%
- Dịch vụ cá nhân: 17%
(Từ web Israelmybeloved.com)
Trên tiến trình biến đổi, tính chất của kibbutz và moshav cũng đã thay đổi về nhiều mặt:
Về cơ cấu quản lý: Trước kia theo chế độ tự quản với dân chủ trực tiếp, nay được thay bằng những ban đại diện.
Về gia đình: Trước kia, con cái được nuôi dạy riêng và ở xa cha mẹ, ngày nay, từ thập niên 1970, đời sống ở kibbutz đã đặt trọng tâm ở gia đình, nên con cái được cha mẹ nuôi dạy và sống với cha mẹ, và trong nhiều kibbutzim nông gia đã có thể nấu ăn tại nhà.
Về công hữu: Trước kia, mọi tài sản là công hữu, nay thì nguyên tắc công hữu đã giảm vì sự phát triển kỹ nghệ, và nông gia đã tự mình thiết lập những liên doanh sản xuất, dịch vụ tư. Rồi trong kibbutz, có nhiều nông gia đi làm ngoài với lương cao, đã tích lũy tài sản riêng, mua nhà ở thành phố cho thuê. Vì thế, từ thập niên 1990, tính chất của kibbutz đã có nhiều thay đổi từ phạm vi cá nhân tới cộng đồng:
- Với cá nhân thì không còn chuyện cùng làm, cùng hưởng, vì đã có người giàu người nghèo, nên kibbutz đã phải điều chỉnh chính sách. Chẳng hạn, một số kibbutzim đã chấp nhận một hệ thống lương khác biệt, trong đó ngoài mức lương tối thiểu, còn có mức cao hơn cho những thành viên kỳ cựu, những người chịu trách nhiệm nặng nề và những người đi làm ngoài kibbutz có lương cao. Từ đó, đời sống cá nhân trong kibbutz đã thay đổi về việc làm, ăn và ở. Rồi trong một số kibbutzim khác, thành viên đã phải trả một loại thuế căn bản cho tất cả những dịch vụ trong kibbutz.
- Với cộng đồng thì trước kia cũng đã có kibbutz giàu nghèo khác nhau, nhưng tất cả đã cùng sống và cùng làm theo nguyên tắc tập thể và công hữu. Còn bây giờ sự phân cách giàu nghèo ngày càng lớn (do sự thành bại trong cách làm ăn mới) nên đã có sự thay đổi về nguyên lý nền tảng giữa các kibbutzim, trong đó kibbutz giàu duy trì nguyên lý cũ, còn kibbutz nghèo thì tìm đường ra khỏi cách làm và cách sống cũ.
Như thế, chuyện vô sản ở kibbutz đã biến dần và quyền tư hữu đã trở về với những đứa con và cháu của thế hệ tiền phong. Còn đối với moshav thì sự biến đổi tự nhiên hơn, vì tính chất tự do từ khởi thủy: Làm riêng và sống riêng. Nhưng ngày nay thì nông dân moshav tìm cách đạt tới độc lập hơn về kinh tế. Vì thế, các ngành sản xuất kỹ nghệ liên hợp, dịch vụ và du lịch cũng được phát triển song song với nông nghiệp giống như hệ thống kibbutz đã thực hiện.
Để nhìn về tương lai của cộng đồng nông thôn Israel, xin trích dẫn ít điều của mấy nhà nghiên cứu Do Thái:
- Dân số Israel là 7.282.000 (2008), trong đó nông dân chiếm khoảng 9% với 3.7% trong các làng thường, 2.2% trong kibbutzim và 3.1% trong moshavim. Nông dân với những hình thức định cư đặc thù đã đem đến một bầu khí riêng biệt cho Israel. Khi Israel đi vào thế kỷ 21, nông thôn đã thích ứng với đời sống mới: Kibbutzim và moshavim đã bớt tập trung hóa, đồng thời đặt nặng đời sống gia đình và cá nhân; làng đã đầu tư thêm tài nguyên vào kỹ nghệ và nông nghiệp. Nhiều vùng nông thôn đã trở thành ngoại ô của đô thị và tiếp nhận kỹ nghệ từ đô thị chuyển tới.
- Hình như mỗi kibbutz cuối cùng sẽ tìm ra kiểu phát triển của riêng nó từ cái cũ và cái mới. (Henry Near, Kibbutz historian).
- Kibbutz đã đi vào giai đoạn bể ra từng mảng. Một số đang đi vào chế độ lương và giá cả…Từ đó, người ta nghĩ là sự cáo chung của đời sống tập thể đang tới.
(David Bailey, Sociologist, University of Birmingham)
(Focus on Israel: Kibbutz, www.mfa.gov.il )
II. Nông dân Việt Nam.
Dưới chế độ Cộng Sản trên nửa thế kỷ nay, nông dân Việt Nam đã phải đi qua nhiều đoạn đường khổ ải. Xin tóm tắt về mấy đoạn đường ấy như sau:
A. Kháng chiến.
Năm 1946, khi Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam, chính quyền Hồ Chí Minh (mới được thành lập từ tháng 8-1945, do đảng Cộng Sản nhanh tay và có tổ chức, nhân cơ hội khoảng trống chính trị - Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim của triều đình Huế vô lực, đã cướp được chính quyền) phải rút lên vùng thượng du Bắc Việt và đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong bản kêu gọi có đoạn:
chân dung ông Trần Trọng Kim
|
“Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, xuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.
Từ đó, dân Việt nói chung hay nông dân nói riêng, vì yêu nước, vì khát vọng độc lập đã đi vào khánh chiến. Trong kháng chiến, nông dân đã trở thành chủ lực (tất nhiên vì nông dân Việt Nam lúc đó chiếm gần 90% dân số) và đã đóng những vai trò then chốt:
Thứ nhất về lực lượng vũ trang: Quân kháng chiến đã phát triển từ 75.000 năm 1948 lên 125.000 năm 1953 (kể cả địa phương quân và tự vệ quân là 350.000 người), lập thành 9 sư đoàn (gọi là đại đoàn) được Trung Cộng võ trang vũ khí tối tân và huấn luyện ở Hoa Nam cả quân sự lẫn chính trị.
(Hoàng Cơ Thụy, Việt Sử Khảo Luận, Paris: Nam Á, 2002, trg. 2267)
Thứ nhì về tiếp vận: Nông thôn vừa là nguồn cung cấp lương thực vừa là nguồn cung cấp dân phu tiếp vận chiến trường. Lương thực là thuế nông nghiệp nên có lẽ không sách nào ghi được con số thuế này. Vì thế, ở đây xin ghi lại ít con số dân công đảng Cộng Sản đã sử dụng để chuyển vận và làm đường.
Về tổng quát, trong giai đoạn chiến trường cơ động, khi bộ đội chính quy hành quân mấy tuần liền, một chuỗi kho quân nhu (gạo và đạn dược) phải được thiết lập trước và lúc nào cũng phải đầy. Bất cứ những chuẩn bị chiến dịch nào như thế cũng đòi hỏi lực lượng dân quân tổ chức những đoàn dân công để thiết lập kho quân nhu và để khai quang, làm những con đường thô sơ, và mỗi sư đoàn 10.000 người cần 50.000 dân công. Số dân công nam nữ này được trưng tập trong việc tiếp vận dọc theo đường hành quân của một sư đoàn, phải đi dân công trong khoảng từ 10 tới 14 ngày, thời gian này cho họ 7 ngày khuân vác cộng với thời gian cần để tập hợp và trở về nhà.
(Martin Windrow, The Last Valley, Cambridge: Da Capo Press, 2004, trg. 153)
Về những chiến dịch đặc biệt, sử gia Cộng Sản Nguyễn Khắc Viện trong Histoire du Viet Nam, đã cho biết:
“Tháng 9-1953, chiến trường bao trùm cả Đông Dương. Phải động viên hàng triệu người để đánh du kích, sửa đường, chăm lo tiếp tế cho những bộ đội tham chiến nhiều khi cách xa hậu cần nhiều trăm cây số. Tỉ dụ như công tác mở đường từ Yên Bái đến Sơn La đã sử dụng tới 2 triệu ngày lao động, việc mở con đường nối liền khu II và III đã đòi tới 2.600.000 ngày”.
(Trích lại trong Hoàng Cơ Thụy, sđd, trg. 2390)
Còn việc chi viện cho mặt trận Điện Biên Phủ, sử gia Cộng Sản viết:
“Hầu hết ô tô vận tải (hàng ngàn xe) được đưa ra phục vụ mặt trận. Các đoàn thuyền buồm, thuyền độc mộc, bè mảng (gần 1 vạn 200 chiếc) đêm ngày vượt dòng sông Mã, vượt thác sông Đà hoặc xuôi dòng Nậm Na chở gạo từ Thanh Hóa lên, từ liên khu 3, Hòa Bình, Phú Thọ đến, từ Phong Thổ, Lai Châu về tiếp tế cho mặt trận Điện Biên. Hơn 2 vạn xe đạp thồ, sức chở của mỗi xe từ 160 cân đến 325 cân, đã băng đèo vượt suối đưa lương thực, vũ khí lên Điện Biên. Kết quả, 27400 tấn gạo do nhân dân đóng góp, bằng nhiều con đường đã chuyển tới Điện Biên”.
(Trích lại trong Hoàng Cơ Thụy, sđd, trg. 2434)
Việt Minh đã thắng trận Điện Biên Phủ do nhiều yếu tố về lãnh đạo, về ngoại viện (Liên Sô và Trung Cộng) và sự sai lầm về chiến lược và chiến thuật của tướng Navare, nhưng nông dân (quân đội và dân công) đã là nhân lực để tạo nên chiến thắng đó.
B. Cải cách ruộng đất.
Cải Cách Ruộng Đất 1953
|
Chiến thắng Điên Biên Phủ đã kết thúc cuộc chiến tranh với hiệp định Geneve (20-7-1954). Qua hiệp định, chính quyền Hồ Chí Minh đã chiếm được một nửa nước, từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc và chế độ Hồ Chí Minh bắt đầu tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Trước hết là cải cách ruộng đất.
1. Mục tiêu cải cách ruộng đất.
Từ 1949 đến 1954 đã có nhiều sắc lệnh về cải cách ruộng đất, hầu hết đặt nặng về vấn đề địa tô, giải quyết việc giảm nợ hoặc xóa nợ và tịch thu đất ruộng của những thành phần có tội gọi là Việt gian chia cho nông dân. Nhưng do chiến tranh nên việc cải cách chỉ thực hiện được trong một số vùng thuộc phạm vi kiểm soát của chính phủ kháng chiến. Đến năm 1953, việc cải cách mạnh hơn với mục tiêu tịch thu toàn bộ đất đai của thực dân Pháp, Việt gian, địa chủ phản động để thực hiện chương trình ruộng đất cho người cày và quy định thành lập tòa án nhân dân để xét xử những thành phần có tội trong cải cách ruộng đất. Chương trình cải cách lần này đã tác động nhiều vào tinh thần kháng chiến của nông dân trong chiến dịch Điện Biên Phủ và đã tạm ngưng sau hiệp định Geneve với cuộc di cư của gần 1 triệu dân miền Bắc di cư vào miền Nam.
Tới giữa năm 1955, chương trình được tiếp tục trên qui mô toàn miền Bắc với cơ cấu tổ chức như sau:
2. Cơ cấu tổ chức.
Cấp trung ương là Ủy Ban Cải Cách Ruộng Đất do Trường Chinh, Tổng bí thư đảng Lao Động Việt Nam (đảng Cộng Sản) lãnh đạo với 3 phụ tá là Hoàng Quốc Việt (Ủy viên bộ chính trị), Lê Văn Lương (Ủy viên bộ chính trị) và Hồ Viết Thắng (Ủy viên trung ương đảng).
Cấp tỉnh là Đoàn Cải Cách Ruộng Đất. Trung bình mỗi tỉnh có 10 đoàn, mỗi đoàn có khoảng 100 cán bộ, có trưởng đoàn đứng đầu, nhận lệnh từ Ban Cải Cách Trung Ương, không qua hệ thống đảng ủy hay chính quyền địa phương. Đoàn được phân phối về huyện và mỗi đoàn có nhiều đội, mỗi đội có khoảng chục cán bộ. Đội phụ trách cải cách ở xã và có quyền hạn tuyệt đối, nên trong thời gian cải cách, người ta đã nói: Nhất đội nhì trời.
(Trần Gia Phụng, Án Tích Cộng Sản, Toronto, Ontario: Non Nước, 2001, trg. 121)
Hồ Chí Minh
|
Trường Chinh
|
Hoàng Quốc Việt
|
Lê Văn Lương (giữa)
|
3. Phân loại thành phần giai cấp nông thôn.
Để tiến hành cải cách ruộng đất, đảng Cộng Sản đã ra sắc lệnh (3-1953/1955) ấn định 5 thành phần ở nông thôn như sau:
- Địa chủ có 3 loại: Địa chủ Việt gian phản động, cường hào ác bá, địa chủ thường và địa chủ kháng chiến (Định như thế, nhưng loại 2 và 3 không hề có, nên tất cả địa chủ đều bị liệt vào loại địa chủ Việt gian phản động.
- Phú nông: Loại có khoảng 3 mẫu ta đất ruộng.
- Trung nông: Loại có dưới 3 mẫu ta và được chia thành 3 loại là trung nông cứng, trung nông vừa và trung nông yếu (không có trâu bò hay gia súc).
- Bần nông: Loại có ít sào đất, phải đi làm thuê hay thuê đất.
- Cố nông: Loại chỉ đi làm thuê.
Từ sự phân loại này, đảng đề ra chiến thuật đấu tranh là: Dựa vào bần cố nông, đoàn kết với trung nông, liên hiệp với phú nông để tiêu diệt địa chủ.
4. Biện pháp thi hành.
Cuộc cải cách ruộng đất năm 1955-56 có tính chất toàn diện, nhằm thay đổi tận nền móng xã hội nông thôn miền Bắc, nên mỗi xã là một trận địa và Đội Cải Cách đã thực hiện cuộc cách mạng “long trời lở đất” như Cộng Sản đã gọi qua những bước như sau:
Bước thứ nhất.
Đội về xã và mỗi cán bộ được phân nhiệm phụ trách một thôn. Ở thôn, cán bộ đi từng nhà điều tra bằng cách Thăm Nghèo Hỏi Khổ, tìm và ở lại một gia đình bần hay cố nông, và sử dụng cố nông đó, gọi là bắt rễ. Rồi tìm Chuỗi (có thể là con của gia đình cố nông), và chuỗi này sẽ tìm bạn kết chuỗi khác. Cứ thế lan ra, gọi là xâu chuỗi. Rễ và chuỗi, gọi là cốt cán. Từ thành phần bần cố nông này, có thể nhận rõ rễ chuỗi là những nông dân nghèo, ít học hay mù chữ.
Bước thứ nhì.
Ở bước này, cán bộ tuyên truyền về việc nông dân đứng lên đánh đổ giai cấp địa chủ để làm chủ ruộng đất và tổ chức những buổi họp rễ chuỗi, thúc đẩy nông dân tố khổ những địa chủ, cường hào gian ác trong thôn, gọi là cụng đầu tố khổ. Trong những buổi cụng đầu tố khổ, rễ chuỗi đua nhau nói về sự nghèo đói, đau khổ của đời bần cố nông và sự bóc lột của địa chủ. Họ bắt địa chủ tới tố khổ trong những buổi tố khổ của thôn cho tới khi địa chủ chịu nhận tội bóc lột và phản động, rồi bắt nhốt địa chủ ở một nơi nào đó.
Về chuyện này, nhà văn Tô Hoài đã thuật lại như sau:
“Theo kế hoạch chung, tối nào cũng họp tổ nông hội, họp thôn kể khổ, đôi khi đấu lưng cả địa chủ đã chết tới sáng. Phải soi mói cùng kiệt, không để lọt lưới. Bố mẹ nhà địa chủ xuống âm phủ đã tám hoánh thì moi lên đấu bóng, đấu cho tăng căm thù đón ngày mit tinh xóa bỏ giai cấp địa chủ toàn xã”.
Cứ như thế, ở bước thứ nhì, Đội Cải Cách lên danh sách địa chủ, danh sách phú nông, bắt người này, xin lệnh đoàn bắn người kia. Chính sách khủng bố này đã khiến nhiều người đã phải tự tử trước khi bị bắt, gây nên một bầu khí đe dọa toàn xã như Tô Hoài mô tả:
“Đường làng vắng hẳn, người nào bần cùng lắm mới ra đường, đi len lét, không ai dám đến nhà ai. Gặp anh Đội, người già lùi vào bờ rào, ngoảnh ra cúi đầu chắp tay vái”.
(Tô Hoài, Ba Người Khác, Hà Nội: Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006, trg. 77)
Bước thứ ba.
Tới bước thứ ba, xã thiết lập tòa án nhân dân để xử tội số địa chủ đã bị tố ở bước hai. Tòa án này do cán bộ cải cách làm chánh án, và nông dân được chọn lựa lên làm biện lý. Phiên tòa nào cũng giống nhau, địa chủ bị cáo, bị trói quỳ trước tòa. Sau khi quan tòa đọc bản cáo trạng về tội ác của bị cáo là tới dân chúng đứng ra tố cáo tội ác của bị cáo với những lời chửi rủa thóa mạ, cùng đấm đá. Cuối cùng quan tòa tuyên án, những bản án đã được định sẵn. Phần lớn là tử hình với nhiều kiểu hành quyết như bắn tại chỗ (huyệt được đào sẵn trước bãi tòa án), tội nhân bị trói nhốt vào giỏ như heo, rồi đem ra sông hoặc ao đầm dìm cho chết, hoặc trói trên một ổ kiến cho kiến đốt chết, hoặc chôn sống…, như cha vợ của nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” đã bị chôn sống để thò đầu lên khỏi mặt đất, rồi cho bừa đi bừa lại nhiều lần.
Sau những vụ hành quyết, gia đình tử tội bị đuổi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng, toàn bộ nhà cửa, tài sản bị tịch thu để chia cho bần cố nông, và ở đâu người ta cũng thấy cảnh nhà của địa chủ bị đào sới từ trong nhà ra ngoài sân, vườn để tìm đồ bị nghi là được chôn dấu ở đâu đó.
Bước thứ tư.
Bước cuối cùng là chia ruộng đất tịch thu của địa chủ cùng ruộng cống hiến của phú nông và trung nông lớp trên. Rồi mỗi thôn lại trở về với những cuộc họp chia ruộng, tố khổ để tìm ra số ruộng, tranh nhau chỗ ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng mặn, ruộng chua… lại chính bần cố nông làm công việc phân chia ruộng cho mình, đúng theo ý nghĩa ruộng đất đã về với nông dân lao động. Và chuyện này, nhà văn Tô Hoài đã ghi lại mấy hình ảnh:
Hồ Chí Minh đi thăm Hợp Tác Xã
|
“Nhiều người vác cả bó thừng ra sắp sẵn đóng cọc chung quanh thửa ruộng sẽ được cắm thẻ. Cả một đời bây giờ mới nhìn thấy một miếng ruộng của mình. Những cành tre phơ phất các góc ruộng. Người vừa được gọi tên ra nhận ruộng, nước mắt ràn rụa quay lại chắp tay vái trời, vái anh đội. Có người lầm rầm khấn ông bà, ông vải tổ tiên về chứng giám với con cháu, rồi ngồi xuống khóc rưng rức”.
(Tô Hoài, sđd, trg. 170)
Sau bước thứ tư, theo thống kê, 2104.100 hộ nông dân lao động đã được chia 810.000 ha ruộng đất của giai cấp địa chủ, phú nông. Như thế là đảng Cộng Sản Việt Nam đã thực hiện khẩu hiệu “Đất Cho Người Cày”. Nhưng việc nông dân làm chủ ít mảnh đất đã không kéo dài được lâu, vì tới cuối năm 1957, đảng đi tới một bước khác là thực hiện cách mạng vô sản ở nông thôn bằng chính sách hợp tác hóa nông nghiệp để đưa nông dân vào con đường vô sản làm chủ tập thể, và bước này kéo dài qua mấy giai đoạn:
- Tổ đổi công: Việc đổi công, giúp nhau làm mùa đã có từ lâu ở nông thôn, nhưng bây giờ khác là thành tổ chức có tên.
- Hợp tác xã: Giai đoạn tổ đổi công không được lâu, và chỉ là giai đoạn chuyển tiếp để đảng tiến lên Hợp Tác Hóa với đơn vị là Hợp Tác Xã. Tới đây thì nông dân phải góp ruộng đất, nông cụ, trâu bò vào hợp tác xã để làm chung dưới sự lãnh đạo của đảng. Khởi đầu là hợp tác xã cấp thấp, đơn vị sản xuất tập thể nhỏ với khoảng từ 10 tới 20 hộ và canh tác khoảng trên 10 ha. Rồi từ 1960, hợp tác xã cấp thấp được tập hợp lại thành những hợp tác xã cấp cao. Nhân số và diện tích ruộng đất của hợp tác xã cấp cao cũng khác nhau tuỳ theo địa phương, trung bình từ 300 tới 500 ha. Tới 1975, hợp tác xã cấp cao chiếm 88% tổng số hợp tác xã.
(Lâm Thanh Liêm, Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất Việt Nam, Paris: Nam Á, 1995, trg. 42)
5. Kết quả cải cách ruộng đất.
Trong cải cách ruộng đất, đảng Cộng Sản đã đạt được nhiều mục tiêu. Có thể kể:
Thứ nhất là truyền bá ý thức đấu tranh giai cấp, gây lòng căm thù để cho nông dân thấy đảng đã cho mình vai trò làm chủ qua việc đấu tố, hành hạ và giết địa chủ, phú nông, rồi được phân chia nhà cửa, đất ruộng của địa chủ. Từ đó, đảng biến nông dân thành một lực lượng đi với đảng.
Thứ nhì là đưa ý thức đấu tranh vào thực tiễn, đảng đã vận dụng nông dân tàn sát, theo ước lượng, trên 300.000 người, gồm tầng lớp địa chủ, phú nông, và những thành phần tư sản, tiểu tư sản, gọi là Việt gian. Nông dân đấu tố, dân quân bắt tội nhân ăn cứt, liếm đờm, đem trấn nước cho chết, chôn sống hoặc kéo xác tội nhân quanh đường làng…Việc tàn sát dã man này đã đưa ý thức đấu tranh giai cấp lên cao, đồng thời cũng tạo được sự khiếp sợ trong tâm trí nông dân trước quyền uy của đảng.
Thứ ba là đã thay đổi toàn diện cơ cấu xã hội và kinh tế nông thôn. Sau cải cách ruộng đất, nông thôn chỉ còn một giai cấp là giai cấp nông dân vô sản với tính chất trại lính: Đi làm theo lệnh Ban Quản Trị Hợp Tác Xã để được chấm công, chấm điểm. Mỗi ngày lao động 10 giờ, mỗi giờ được 10 điểm, mỗi điểm được 150 gam gạo. Sau mỗi vụ gặt, hợp tác xã chia số thu hoạch thành 4 phần: Phần thứ nhất để đóng thuế, phần thứ hai để làm nghĩa vụ, tức là bán cho chính phủ bốn lần rẻ hơn giá ở thị trường tự do, phần thứ ba để trả nợ cho ngân hàng và các cơ quan khác, phần thứ tư để chia cho xã viên theo tổng số điểm mỗi người đã làm được trong toàn vụ.
(Hoàng Văn Chí, Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, California: Đại Nam, 1997. trg. 32)
Thứ tư là hủy diệt văn hóa dân tộc. Văn hóa Việt Nam về căn bản là văn hóa xã thôn với con người hiền hòa, giàu đạo nghĩa được khuôn đúc từ tôn giáo: Thờ kính tổ tiên, theo đạo từ bi của Phật, theo tín nghĩa của Nho, từ nhiều thứ lễ hội biểu hiện tín ngưỡng. phong tục và nếp sống văn hóa dân gian… Nhưng với chủ nghĩa duy vật Marx – Lenin thì tất cả nền văn hóa này đều là tàn tích phong kiến phản động và đảng Cộng Sản đã sử dụng thành phần cán bộ nông dân cuồng tín theo đảng tàn phá hết từ đình chùa miếu mạo, nhà thờ họ tới tất cả lễ hội. Chuyện phá nhanh, phá hết những cơ sở văn hóa tinh thần đã trở thành một chính sách thi đua lập thành tích, đến như Nguyễn Huệ Chi, một nhà nghiên cứu hàng đầu của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã phải nói:
“Từ hơn 50 năm lại đây, văn hóa truyền thống đã trải qua một “đại nạn”: Vì nghĩ đây là những tàn tích phong kiến, chúng ta đã công nhiên lên án chúng, thẳng tay “đàn áp”, “xử tội” chúng, đã để cho bao nhiêu đình, chùa, bia mộ, sách vở quý giá ở khắp mọi vùng bị đốt phá, hoặc mất mát hư hỏng mà không một chút động tâm, như nhiều thế hệ đã tận mắt nhìn thấy”.
( Talawas/21/9/2005, Để làm được chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại)
Trên đây là 4 cái thành trong cải cách ruộng đất, còn thất bại có thể kể:
Thứ nhất là ý thức về tư hữu: Đảng Cộng Sản đem chủ nghĩa Marx – Lenin về làm cách mạng vô sản, dùng chuyên chính vô sản để hủy diệt ý thức tư hữu, xây dựng ý thức vô sản. Đảng làm kinh tế quốc doanh và bắt làm tập thể thì phải làm, nhưng cơ chế, giáo dục và truyền thông đã không tẩy não được ý thức tư hữu. Vì thế nông dân đã sao lãng công việc trên đất hợp tác xã và trở về với mảnh vườn nhỏ quanh nhà được đảng dành cho để chăm lo cho luống khoai, luống sắn, luống rau. Về chuyện này, đảng đã thường cảnh cáo và nhắc nhở là phải cảnh giác, đừng để cho óc tư hữu ngóc đầu dậy. Nhưng đối với đảng viên, cán bộ có chức quyền trong hợp tác xã, những người thực hiện cách mạng vô sản, lại tìm cách vun quén cho tư hữu của mình, mà ngay những năm đầu của hợp tác hóa, dân miền Bắc đã đặt thành ca dao:
Mỗi người làm việc bằng ba
Để cho chủ nhiệm xây nhà, xây sân.
Đó là chuyện của 40 năm trước. Còn bây giờ, từ sau đại hội đổi mới (1986) thì ý thức vô sản đã trở thành chuyện lỗi thời, vì đảng Cộng Sản đã chứng minh một điều là đảng làm cách mạng vô sản, nhưng ý thức tư hữu lại thắng trong lòng đảng viên và đảng đã dùng chuyên chính để tích lũy tư hữu cho đảng viên.
Thứ nhì là chuyện sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa: Hợp tác hóa nông nghiệp với hợp tác xã từ thập niên 1960 tới năm 1975, với đảng là tổ chức làm ăn tập thể qui mô, có tổ chức để nâng cao sản lượng, nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa cho nông dân. Nhưng vào việc cho thấy đảng đã thất bại là sản lượng nông nghiệp đã không tăng mà ngày càng giảm, mặc dù trong những năm từ 1965 tới 1969, Liên Sô và Trung Cộng đã viện trợ mỗi năm 1 triệu tấn gạo mà dân miền Bắc vẫn phải ăn độn khoai lang, khoai mì.
Theo tổng kết chung thì sự thất bại này do nhiều nguyên nhân như chiến tranh, thiếu sự cải tiến kỹ thuật canh tác, quản lý kém để thất thoát nông phẩm, phân bón, tài chánh…, và thuế nông nghiệp quá cao, khoảng 85% hoa lợi mỗi vụ lúa.
(Lâm Thanh Liêm, sđd, trg. 45)
Nghiên cứu và phân tích thì đủ thứ nguyên nhân, nhưng chuyện này, ông Hoàng Hữu Cát, trong bài phóng sự “Tiếng Đất” đã nói lên một nguyên nhân căn bản qua tâm sự của một lão nông như sau:
“Hàng ngày, từng đoàn người đói rách, với đôi bao tải và chiếc cuốc bàn trên vai, chen chúc nhau vào ga Hướng Lài để ngược tàu lên tận Làng Giàng mót sắn. Các nhân viên soát vé của nhà ga không nỡ chặn họ lại, bắt phải mua vé, đành đứng tránh ra cho họ ùa lên các toa đen và nhìn theo họ mà ái ngại và buồn bã.
Thỉnh thoảng lại gặp một vài người ăn xin, đấy là những ông già hoặc phụ nữ có dắt theo con nhỏ.
Một người đàn ông, trạc năm mươi tuổi, dừng xe máy trước cửa ga, vừa bước vào quán nước, chưa kịp uống cạn chén trà, đã thấy một bàn tay xương xẩu, run run giơ ra trước mặt. Người đàn ông móc túi áo, lấy ra tờ bạc hai mươi đồng, nhưng lại nhét vội vào và rút ra tờ một trăm đồng:
- Cháu nhìn ông quen quá (người đàn ông cho tiền ông già nói). Hình như ông là ông Mô có phải không?
- Vâng tôi là Mô đây. Anh có phải là anh Lai, con trưởng cụ Dũng ngày xưa không?
- Vâng, thằng Lai đây ông ạ! Ông ơi! Năm năm tư, ông nói: “Vì bị bố cháu bóc lột nên ông mới nghèo khổ”, thế bây giờ, ông bị ai bóc lột mà ông nghèo khổ thế?
Ông già cúi nhìn mãi bàn chân đen đủi của mình, rồi chậm rãi nói, mặt vẫn không ngẩng lên:
- Nông dân đói vì không có ruộng anh ạ! Đời tôi hơn bảy chục tuổi trên đầu rồi mà chưa được thực sự làm chủ lấy một ngày. Trước cách mạng, đi làm thuê cho ông cụ nhà anh. Cải cách ruộng đất, được Đảng và chính phủ chia cho mấy sào ruộng với một chân trâu, bụng khấp khởi mừng thầm, chắc mẩm giờ đây mình sẽ được làm chủ, nhưng rốt cục, lại vẫn là làm thuê, kiểu làm thuê lấy điểm, cốt lấy thật nhiều điểm chứ lúa tốt, lúa xấu thế nào không cần biết. Thời anh mới học làm đồng, tôi hay mắng anh về tội cày lỏi, bừa dối, anh còn nhớ không? Tôi ghét thậm tệ những thằng làm ăn láo lếu. Vậy mà vào hợp tác xã, tôi phải học cách cày lỏi, bừa dối mới được nhiều điểm. Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm. Những người thực thà chăm chỉ trở thành những thằng ngố cho mọi người cười nhạo. Ngày xưa, ông bà ta có dám nói dối, nói điêu đâu. Giờ thì tin được con người khó quá. Người tử tế thì ít, bọn đầu trộm đuôi cướp thì nhiều… Nếu biết cơ sự này, trước đây đừng hòng tôi vào hợp tác xã (?). Trước tôi tưởng chỉ mất đất thôi, không ngờ mất cả người. Cái đói nó sinh ra cả đấy anh ạ! Ông lão đột ngột im lặng. Chén trà trên tay ông run run, làm nước sánh cả ra ghế. Và ông khóc”.
( Đoàn Kết, số 404, tháng 7&8, 1988, Paris)
Sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa với hợp tác xã ép buộc đã phản tác dụng, vì nông dân không có đất và không thể giác ngộ ý thức vô sản đã đưa đến sự thất bại của hợp tác xã, của hệ thống sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Nguyên nhân đơn giản và thiết thân với con người như thế mà những người lãnh đạo Cộng Sản không chịu hiểu. Nhưng trong bài Tiếng Đất, ông Hoàng Hữu Các còn cho biết thêm một chuyện nữa là ông Kim Ngọc, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú đã nhận ra cái hỏng của cơ chế xã hội chủ nghĩa và ông đã đặt tên cho nó là “chủ nghĩa xã hội kiểu trại lính” mà đặc trưng tiêu biểu nhất của nó là “Cào bằng”. Thấy được đó là căn nguyên làm cho nông dân đói, nên ông đã chống lại chính sách cào bằng và thay bằng chính sách Khoán Sản Phẩm đến hộ xã viên. Với chính sách này, hợp tác xã trao cho xã viên một số ruộng đất để gia đình xã viên tự canh tác, và sau vụ thu hoạch, ngoài thuế nông nghiệp xã viên trả lúa theo hợp đồng khoán. Chính sách khoán đã cứu đói, nhưng đã trở lại với đơn vị cá nhân chịu trách nhiệm, trái với chính sách tập thể vô sản, nên ông Kim Ngọc đã bị thanh trừng. Đáng tiếc là lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã không theo sáng kiến của ông Kim Ngọc để 14 năm sau (1981) lại tôn Đặng Tiểu Bình làm thầy, đi theo chính sách khoán của họ Đặng. Khoán của Đặng khác gì khoán của Kim Ngọc? Đúng là Bụt nhà không thiêng mà còn bị chém đầu!
Theo ông Các thì tuy mất chức, nhưng ông Kim Ngọc vẫn tuyên bố rất tự tin rằng: “Lịch sử sẽ chứng minh tôi đúng!” Mà ông đúng thật, vì chỉ sau khi ông chết được một năm, đảng đã phải ban hành nghị quyết số 100 (1/81) thực hiện chính sách khoán. Rồi từ đó tới cuối thập niên 1980, chính sách khoán đã thay đổi dần để đi tới chính sách cới trói nông dân.
C. Cởi trói.
Sau khi chiếm miền Nam (30/4/75), đảng Cộng Sản đã để ra hai năm nghiên cứu về nông dân và ruộng đất. Năm 1977, đảng bắt đầu tiến hành chương trình hợp tác hóa nông nghiệp như đã làm ở miền Bắc. Nhưng có lẽ do nhiều yếu tố từ tinh thần nông dân đến thực tế là miền Nam đa số nông dân đã trở thành tiểu nông, trung nông qua hai cuộc cải cách ruộng đất thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-63) và Đệ Nhị Cộng Hòa (1964-75), nên đảng Cộng Sản đã không thể làm thêm một cuộc cách mạng long trời lở đất, đấu tố địa chủ và giết nhiều người, mà phải tiến hành bằng nhiều biện pháp ôn hòa qua nhiều giai đoạn. Xin tóm tắt như sau:
1. Giai đoạn hợp tác hóa ruộng đất (1978-79).
Cơm độn khoai lan
|
Từ năm 1978, nông dân miền Nam đi vào làm ăn tập thể trong hai thứ tổ chức là hợp tác xã và tập đoàn sản xuất. Ngoài những biện pháp thuyết phục và cưỡng bách, đảng đã dùng biện pháp kinh tế là cấm tư thương chuyên chở nông sản, nhu yếu phẩm từ nông thôn lên thành phố, hay từ vùng này qua vùng kia, và bắt buộc nông dân phải bán nông sản cho nhà nước theo giá quy định. Đảng cho rằng biện pháp “Ngăn sông cấm chợ” sẽ buộc nông dân vào hợp tác xã và nhanh chóng tạo được cơ chế độc quyền mua bán của nhà nước. Nhưng đảng quên một điều là nông dân miền Nam đã sống tự do với quyền tư hữu ruộng đất lâu năm, nhất là thành phần trung, tiểu nông có thân nhân theo Cộng Sản không ít, nên nông dân đã chống lại chương trình hợp tác hóa bằng những biện pháp tiêu cực như không gia tăng sản xuất, chỉ làm đủ sống, bán lén lút gia súc ra thị trường tự do, nên khắp nơi trở thành chiến trường mua chui, bán chui, và đồng ruộng miền Tây của tư nhân cũng như nông trường bỏ hoang khắp nơi. Từ sự chống đối này, sản xuất lương thực giảm sút, nạn đói đe dọa và dân miền Nam trong những năm 1977, 78, và 79 đã phải ăn cơm độn khoai mì, khoai lang hay bo bo (do Liên Sô viện trợ).
2. Giai đoạn sửa sai (1980-82).
Để đối phó với tình thế đói kém, đảng Cộng Sản đã triệu tập phiên họp thứ 6 Ban Chấp Hành Trung Ương (9/1979) xét lại chính sách và đề ra nghị quyết sửa sai, trong đó về nông nghiệp có mấy điểm:
- Cho gia đình xã viên mượn một năm 2 ha đất để trực canh.
- Bỏ ngăn sông cấm chợ, cho phép lưu thông hàng hóa từ nông thôn lên thành phố.
- Khuyến khích chăn nuôi gia đình.
Sau đó, nghị quyết 26 (6/1980), rồi nghị quyết 100 (1/1981) đã lùi thêm với mấy điểm:
- Chính thức ấn định chính sách khoán, gọi là Hợp Đồng Hai Chiều, trong đó nhà nước ấn định năng xuất theo loại ruộng và ấn định tỷ lệ khoán. Theo chính sách khoán, xã viên nhận một số ruộng của hợp tác xã đảm trách mấy khâu như cấy, bón phân, chăm sóc và gặt, còn các khâu khác như cày bừa, làm đất, thủy lợi thì hợp tác xã chịu trách nhiệm.
Như thế là chính sách sản xuất tập thể, chấm công chấm điểm đã bị hủy bỏ để trở lại với đơn vị cá nhân, gia đình, và theo giáo sư Lâm Thanh Liêm thì mấy biện pháp “Giải phóng” kinh tế, do lợi nhuận thúc đẩy, đã khuyến khích nông dân vượt khoán, nên số lượng lúa thặng dư được bán ngoài thị trường tự do giá cao đến 15 hay 20 lần giá lúa chính thức.
(Lâm Thanh Liêm, sđd, trg. 124)
3. Giai đoạn tái tập thể hóa ruộng đất (1983-85).
Sau đại hội 5 (3/1982), thành phần lãnh đạo bảo thủ nắm ưu thế, nên chính sách tập thể hóa ruộng đất lại được phát động. Lần này nhà nước đã dùng biện pháp gia tăng các loại thuế nông nghiệp để trói nông dân và ép nông dân phải trở lại hợp tác hóa. Theo thông tấn xã Việt Nam (10/10/85) thì năm 1986, hầu hết ruộng đất miền Nam đã được tập thể hóa từ Thuận Hải đến mũi Cà Mâu với 622 hợp tác xã và 35.853 tập đoàn sản xuất.
(Lâm Thanh Liêm, sđd, trg. 236)
100 ngàn đồng Việt Nam
|
Chính sách tập thể hóa ruộng đất cùng nhiều chính sách xã hội hóa triệt để với những biện pháp xiết chặt cả nông, công, thương nghiệp và nghị quyết 8 về thay đổi giá lương tiền, chống bao cấp, cùng việc đổi tiền lần thứ ba (9/85) đã đưa nền kinh tế tới phá sản: Lạm phát lên tới 700%, và giá cả đại loạn với hàng hóa tăng giá hàng ngày không thể kiểm soát được. Trước tình thế đó, nhà nước Cộng Sản không thể lý luận bào chữa, đổ lỗi cho những yếu tố khách quan như họ vẫn thường làm mà đã nhận sai lầm. Từ đó, chiến dịch phê bình, học tập sự sai lầm đã được phát động trên toàn quốc. Trong chiến dịch học tập, Nguyễn Văn Linh đã có một bài phân tích về sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo kinh tế (bài nói chuyện không phổ biến ra báo chí). Trong đó ông nói rằng Trung Ương sai lầm trong cải cách ruộng đất vì đã làm theo kiểu Trung Quốc, rồi phạm nhiều sai lầm khác trong công thương nghiệp vì đi theo con đường làm ăn cũ. Trong bài nói chuyện có câu: “Nền kinh tế này không còn phải ở bên bờ vực thẳm mà thật sự đã ở dưới vực thẳm. Chúng ta phải tìm cách nhảy lên không sẽ chết”.
Như thế chính trong cơn khủng hoảng này mà chuyện đổi mới thành cao trào trong đảng, chẳng hạn đến như Trường Chinh, tổ sư của hàng lãnh đạo giáo điều bảo thủ mà trong đại hội đảng bộ Hà Nội ngày 19/10/1986, cũng lớn tiếng phê phán những thứ gọi là sai lầm ấu trĩ tả khuynh, duy ý chí, làm trái quy luật khách quan, lên án cách nghĩ, cách làm cũ, và kêu gọi đổi mới. Tứ đó, đảng Cộng Sản đã đem đường lồi đổi mới vào Đại Hội VI (12/1986), được gọi là Đại Hội Đổi Mới và Nguyễn Văn Linh được bầu làm tổng bí thư để theo gương Gobachev, thực hiện đổi mới ở Việt Nam. Vì thế, sau đại hội 6, nhiều nghị quyết giải phóng kinh tế đã được ban hành. Riêng về nông nghiệp, đảng ban hành nghị quyết 10 (4/88), gọi là khoán 10, thiết lập chính sách khoán trắng, cho phép xã viên canh tác không hạn chế diện tích và chịu trách nhiệm hoàn toàn về số ruộng đất khoán. Với khoán 10 cùng với luật đất đai do quốc hội biểu quyết tháng 12/1986, nhà nước Cộng Sản đã luật hóa chính sách khoán, hủy bỏ chính sách sản xuất tập thể xã hội chủ nghĩa, nới rộng thời gian cho nông dân thuê đất khoán là 15 năm và cho phép người thuê có quyền để lại cho con thừa kế phần đất ruộng thuê hoặc nhượng lại cho một nông dân khác.
Theo ông Vũ Trọng Khải trong bài “Thực Trạng Chính Sách Phát Triển Nông Thôn Hiện Nay” thì nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị (4/1988) về “Đổi mới quản lý nông nghiệp” và nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ 6 là những chính sách mang tính “Cởi Trói”, vì nghị quyết 10 đã thừa nhận hộ nông dân là đơn vị tự chủ sản xuất trong nông nghiệp, khôi phục lại vị thế vốn có từ bao đời nay của kinh tế hộ nông dân đã bị xóa bỏ trong suốt 30 năm tập thể hóa nông nghiệp, coi hợp tác xã dựa trên chế độ sở hữu tập thể về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác, là đơn vị sản xuất và phân phối theo kế hoạch nhà nước. Còn nghị quyết Đảng lần 6 và các nghị quyết sau đó của đảng đã thừa nhận nền kinh tế thị trường như nó đã vốn có bao đời nay, xóa bỏ chính sách ngăn sông cấm chợ, để hàng hóa, trong đó có nông sản, được tự do buôn bán, không phân biệt chủ thể quốc doanh hay dân doanh, không giới hạn qui mô và địa giới hành chính”.
Nguồn: (Tiasang.com, 17/7/08)
(Xin xem tiếp Phần II - Cám ơn)